Hiển thị các bài đăng có nhãn Vạn nẻo đường nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vạn nẻo đường nghề. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2008

Hướng dẫn viên du lịch sẽ được cấp thẻ mới

(TBKTSG Online) - Khoảng 10.000 hướng dẫn viên du lịch trên cả nước, gồm 6.000 hướng dẫn viên có thẻ hướng dẫn cho khách quốc tế và gần 4.000 hướng dẫn viên nội địa, sẽ phải thay thẻ hướng dẫn viên mới vào quý II tới.

Ông Vũ Thế Bình, Vụ trưởng Vụ lữ hành thuộc Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, cho biết cuối quý I này, Tổng cục sẽ ra thông tư hướng dẫn thi hành nghị định 92/2007/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch. Khi đó, vụ lữ hành sẽ bắt đầu thực hiện việc đổi thẻ cho hướng dẫn viên quốc tế. Trước đây, tổng cục không cấp thẻ cho hướng dẫn viên nội địa, những người này chỉ dùng thẻ do các doanh nghiệp lữ hành cấp thì nay họ cũng sẽ được cấp thẻ hành nghề.

Click vào đây hoặc vào hình bên dưới để xem tiếp.


Đào Loan

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2008

Múa lân tại Tao Đàn - TP. HCM

Tiếng trống thùng thùng, nhìn lân múa may, uốn lượn, ánh mắt trẻ con và những nụ cười, quá nhiều người bao quanh khu vực múa lân, tôi c tìm một chỗ đứng thích hợp để có những hình ảnh sinh động này tại công viên Tao Đàn sáng mồng 3 Tết Mậu Tý.

Ngày nay, múa lân được giữ gìn, góp phần làm phong phú và đa dạng những hoạt động văn hoá dân gian. Đặc biệt hơn, những thành viên trong đội lân thường là những thiếu niên có những hoàn cảnh cơ nhỡ, các bạn ấy được đội trưởng dìu dắt vào nghề với mục đích mưu sinh, làm cho tôi chạnh lòng nghĩ đây cũng là một nét văn hoá đầy tình người.












Bài và ảnh: Ngọc Mai

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2008

Điệu múa của núi rừng bên bờ sông Hậu

Sau lễ đón giao thừa, cuộc trình diễn của một nhóm nghệ sĩ từ Tây Nguyên tại khu du lịch Phù Sa thuộc Cồn Ấu sáng mồng 2 tết là đáng kể trong các hoạt động mừng xuân Mậu Tý ở Cần Thơ.


Trong thông báo thì đây sẽ là một lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên nhưng có vẻ như người công bố chương trình cũng không rõ như thế nào là một lễ hội cồng chiêng thứ thiệt. Bởi đây thực ra là một ban nhạc 18 nghệ sĩ người Lạch, Mạ và K’Ho lưu diễn mà đàn t’rưng là nhạc cụ chính.


Phải công nhận là họ rất chuyên nghiệp và biểu diễn hấp dẫn.



Một cảm giác khó tả, buồn buồn đã len vào lòng khán giả khi nghĩ đến sự khắc nghiệt của cuộc mưu sinh không chừa một ai. Lẽ ra họ sẽ nhảy múa cùng nhau trên buôn làng để mừng xuân thì phải mang điệu múa, tiếng đàn đi kiếm sống. Một phần có lẽ do ban nhạc này quá thuần thục trong việc đi lưu diễn nên khán giả có một chút hụt hẫng như nhà thơ Nguyễn Bính đã than thở, khi hương rừng và gió ngàn đã được điện tử hoá, khi sự mộc mạc không còn.

Hình ảnh các nghệ sĩ của núi rừng nhảy múa dưới bóng dừa và bên bờ sông Hậu mang lại cảm giác mới lạ cho khách du xuân. Dù sao thì sáng kiến của Phù Sa rất đáng ghi nhận.



Trần Kiêm Mỹ Xuyên
Ảnh: Cẩm Nhung

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2008

“Chuyện tình” cây lúa nước



Huỳnh Kim

Năm 2007, gạo Việt Nam xuất khẩu được hơn 1,4 tỉ USD, chủ yếu từ các giống lúa cao sản mà bà con nông dân hay gọi là “thần nông”. Chuyện về “cái nền” của các giống thần nông này là cả một câu chuyện tình nghĩa. Nhân ngày Xuân, mời bạn đọc Mblog nhín chút thì giờ, nghe câu chuyện ấy…

Năm 1992, tốt nghiệp thạc sĩ ở Thái Lan, năm 2005 lấy tiến sĩ ở Nhật với đề tài về vai trò của nông dân trong phát triển nông nghiệp và nông thôn ở ĐBSCL, tới giờ, Nguyễn Ngọc Đệ vẫn đam mê câu chuyện dân dã ấy, câu chuyện mà tôi xin lấy tựa cho bài báo này: “Chuyện tình cây lúa nước”. Một ngày cuối năm 2007, anh Đệ tâm sự:

- Tâm huyết của tôi là muốn cho con cháu đời sau biết được gốc tích của mình. Tôi rất mong có kinh phí để làm bài bản hơn việc sưu tầm các nông cụ truyền thống của ĐBSCL. Thí dụ như mời những nông dân cố cựu thao tác để ghi lại hình ảnh, câu chuyên; cả những ngày lễ hội làm mùa của nông dân. Để sau này còn có thể hình dung ra được cái lịch sử trồng lúa nước ở ĐBSCL.

Tết này, anh Đệ bước sang tuổi 52, sau hơn ba chục năm gắn bó với công việc nghiên cứu cây lúa. Anh đang là Giám đốc Trung tâm Tư vấn phát triển của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL thuộc trường Đại học Cần Thơ. Trung tâm này đang lo việc tư vấn trong các lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn, từ chuyện qui hoạch thủy lợi, sản xuất… cho tới sản phẩm, thương hiệu. Dù vậy, nhóm của anh vẫn đeo đuổi công việc thầm lặng mà anh tâm huyết.


TS Đệ & cái “sà ngom” bắt cá của nông dân Khmer


* Gìn giữ lúa mùa

Gốc con nhà nông, từ 10 tuổi anh Đệ đã đi ruộng tiếp gia đình ở Mù U, Ba Càng, Vĩnh Long. Tới năm 1979, tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Đại học Cần Thơ ra trường làm nghiên cứu cây lúa cho tới giờ, anh nhận thấy diện tích lúa mùa ngày càng thu hẹp. Anh kể: “Ý tưởng đầu tiên của nhóm nghiên cứu, hồi đó do thầy Võ Tòng Xuân dẫn đầu, là nếu không sưu tập, giữ gìn thì lúa mùa sẽ mất vì lúa thần nông với các kỹ thuật mới, sẽ thay thế dần. Vậy là lập ra nhóm bảo quản, sưu tầm giống lúa mùa. Hiện nay đã có trên 1.600 giống lúa cổ truyền của ĐBSCL đã được sưu tập và Đại học Cần Thơ đã lập ra ngân hàng giống lúa”.

Có những giống vẫn tồn tại như Tài nguyên, Nàng thơm chợ Đào, đặc biệt là giống Nanh chồn rất nổi tiếng trước đây, gạo thơm, hạt nhỏ, dài, hơi qướt, giống như cái nanh con chồn. Giống này trước có gốc ở Bà Rịa, Vũng Tàu nhưng dần dần được trồng ở vùng ven biển Tiền Giang, Long An. Những giống khác hiện nay không sản xuất nữa do dài ngày quá như Ba kiếu, Ba trúc, Gẫy xe hoặc mấy giống lúa nổi. Còn giống Huyết rồng thì hiện nay Long An đang có kế hoạch khôi phục.

Mỗi vùng có một giống lúa thích nghi. Các vùng trước đây ở ĐBSCL đều canh tác nhờ nước trời; không có hệ thống thủy lợi, người ta phải dựa vào các chế độ nước, đặc biệt là mưa và lũ, để xuống giống cho phù hợp. Chọn giống cũng phải tùy thuộc theo chế độ nước để làm.

Xưa, những vùng từ An Giang, Đồng Tháp cho tới Thốt Nốt trở lên biên giới, nông dân dùng các giống lúa nổi. Giống này độc đáo là có khả năng chịu nước. Tới mùa nước nổi, nước lũ tràn về, với những giống lúa mùa thường, mặc dù cao cây nhưng không có khả năng vươn lóng để dưỡng nước thì bị nhận chìm; còn ở vùng lúa nổi, các giống này chịu được nước ngập trên ba thước. Trong điều kiện như vậy, nước lên tới đâu nó vươn lóng ngoi lên tới đó. Nhóm lúa nổi này có nhiều giống đặc thù như Nàng tây, Tàu binh, Huyết rồng, Lá rừng…

Các giống này do bà con chọn lọc trong tự nhiên, giống nào tồn tại thì giữ lại trồng. Lúc mới giải phóng, diện tích lúa nổi có trên 400.000 héc ta, năng suất từ 1-1,5 tấn/héc ta. Chất lượng gạo thì tùy giống. Như giống Nàng tây có hai dạng, gạo đỏ và gạo trắng; gạo trắng dân ưa hơn nên trồng nhiều. Còn trong nghiên cứu, giống lúa nào có hạt gạo đỏ thì chịu phèn, chịu mặn, chịu hạn tốt hơn.

Riêng giống Nàng thơm chợ Đào, tới giờ có thể coi là giống lúa mùa cho gạo thơm ngon nhất nước. Độc đáo là nó phải được trồng ở vùng Mỹ Lệ của huyện Cần Đước, tỉnh Long An; trồng chỗ khác chất lượng gạo không được như vậy. Gạo thơm, dẻo, có cái phần đục trong hạt gạo mà bà con hay gọi là hạt lựu.

Nàng thơm chợ Đào Nanh chồn, trong điều kiện canh tác bây giờ, có thể đạt được 4-5 tấn/héc ta. Đặc biệt nó chỉ trổ trong khoảng thời gian ngày ngắn, vào khoảng từ tháng 10 đến tháng 12 dương lịch. Ngày ngắn nhất trong năm là ngày 22-12; giống lúa mùa nào sau 22-12 chưa trổ bông thì không thể nào trổ nữa. Cho nên lúa mùa không thể trồng trái vụ được.

Với lúa mùa vùng trũng như ở Vị Thanh, Cần Thơ, Vĩnh Long trước đây, người ta làm lúa cấy hai lần. Cấy hai lần vì ở vùng trũng cần có cây mạ to để chịu đựng được nước. Người ta phải gieo mạ trên liếp, độ một tháng sau (khoảng tháng Sáu, tháng Bảy) thì nhổ cấy xuống những chỗ tương đối trũng bắt đầu có nước vào. Độ hai tháng sau, người ta bứng lúa lên bằng cái dao (vì cây mạ to) rồi cấy lại khi nước đã cao. Đặc điểm của lúa cấy hai lần là cây lúa cao, chịu được mực nước từ năm tấc đến một thước. Ở vùng ven biển như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Gò Công, do đất cao hơn, người ta chỉ cấy một lần.

Lúa mùa có nhiều đặc tính quí cần được bảo tồn. Nó rất hữu ích cho công tác lai tạo các giống lúa mới với những nguồn gien mới như chống chịu phèn, mặn, ngập nước; một số giống cũng chống chịu được một số bệnh phổ biến trên lúa. Có rất nhiều giống có phẩm chất gạo ngon, đặc thù mà các giống lúa thần nông bây giờ không thể so bằng, như dẻo và thơm.

Lâu nay các chuyên gia về cây lúa của Đại học Cần Thơ vẫn lo giữ gìn và khai thác các đặc tính quí của các giống lúa mùa này để phục vụ cho công tác lai tạo các giống lúa mới.

Các anh còn sưu tập cả giống lúa ma hoặc lúa trời. Đây là dạng lúa hoang mà có nơi còn gọi là lúa rung. Xưa nó mọc hoang ở các vùng đầm lầy; nay thì ven các bờ kinh rạch ở ĐBSCL hầu như chỗ nào cũng có, trừ vùng ngập mặn. Lúa hoang ở ĐBSCL sống trong mùa nước và khi tới mùa khô, nhờ cái thân ngầm còn ở trong đất, mưa xuống lại tiếp tục mọc lên. Nó trổ dài vào cuối tháng Chín đầu tháng Mười; khi hạt vừa chuyển sang màu vàng thì bắt đầu rụng. Lúa ma cũng giỏi chống chịu hạn, phèn và bệnh.

Ngày xưa tới mùa, người ta thường bơi xuồng vào đám lúa này. Một người bơi, một người cầm hai cây sào máng trên hai cái cột như cột chèo để đập từ ngoài đập vô, gom cho lúa rụng xuống xuồng. Một ngày cũng có thể kiếm được một hai giạ lúa, gạo ăn rất ngon.

Hiện nay nhóm của anh Đệ cũng đang sử dụng lúa ma làm gien cha mẹ để lai tạo ra những giống mới chống chịu được sự khắt nghiệt của thiên nhiên.


* Sưu tầm nông cụ

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Đệ cho biết, ngày xưa, cùng với việc chọn giống cho phù hợp với điều kiện canh tác thì những kỹ thuật canh tác cũng khác nhau ở từng vùng. Canh tác lúa nổi khác với canh tác lúa mùa cấy hai lần, lúa mùa cấy một lần. Đi kèm những kỹ thuật đó có những nông cụ khác nhau. Bảo tồn được giống rồi thì phải tìm cách bảo tồn được các nông cụ này. Anh Đệ nói: “Nếu không, 10 năm nữa nó không còn xuất hiện trên đời này thì con cháu mình cũng không biết ông bà tổ tiên hồi đó làm ruộng ra làm sao”.

Tâm huyết như vậy nhưng do không có kinh phí và cũng không có chương trình riêng, từ hơn mười năm nay, các anh cứ kết hợp đi công tác ở các địa phương để sưu tập. Khi sưu tập luôn ghi rõ nguồn gốc, lý lịch từng nông cụ.


TS Đệ & cái bừa


Hiện nay, trong gian nhà vốn là cái ga-ra xe hơi cũ của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, đã có hơn 120 nông cụ được sưu tập. “Chúng tôi muốn làm như một bảo tàng nông cụ sản xuất lúa của ĐBSCL, mỗi nông cụ đều có một câu chuyện riêng”, anh Đệ nói. Và thành thạo như một nông dân, anh vừa thao tác vừa giảng giải cho tôi xem vài nông cụ.

Như thu hoạch lúa, bây giờ làm lúa thần nông người ta dùng cái liềm để cắt. Nhưng trước đây làm lúa mùa, cây lúa dài, nhất là ở vùng lúa cấy một lần, cấy hai lần, lúa ngã rạp khi chín, thì phải có cái vòng gặt kéo lúa lên trước khi cắt. Cái vòng gặt của người Kinh khác cái vòng gặt của người Khmer. Cái nọc cấy cũng khác nhau tùy theo độ sâu mực nước, có cái dài hai tấc hoặc năm, sáu tấc. Nọc cấy chỉ có ở những vùng cấy hai lần và một số nơi cấy một lần. Anh Đệ kể: “Tôi nhớ hồi nhỏ, khi tôi nghiêng người cắm cái nọc đâm lỗ dưới đất để nhét cây mạ xuống, vì tay mình còn ngắn nên nước ngập tới lỗ tai”.

Đập lúa cũng có nhiều kiểu đập khác nhau. Trước đây ở vùng lúa nổi mỗi hộ làm tới 30-50 công nên cắt lúa xong người ta bó lại hoặc dùng cái cộ chất lúa lên cho trâu kéo về sân. Người ta phải chuẩn bị cái sân đất được nện cho bằng mặt rồi dùng cứt trâu quậy với nước trát như mình trát xi măng bây giờ để tránh kẻ nứt. Chất lúa lên thành đống rồi cho trâu hoặc bò đi đạp vòng vòng. Khi hạt lúa rụng ra hết người ta lại dùng cái mỏ sãy làm bằng cây mù u để dích rơm ra khỏi đống lúa, sau đó mới giê lúa.

Cách ra hạt nữa là đập bồ tại ruộng. Trong bồ có cái thang làm bằng tre già để đập bó lúa. Để giữ bó lúa, người ta có một dụng cụ đặc biệt là cái nịch gồm có hai khúc cây mù u nối với nhau bằng một sợi dây làm bằng yếm dừa. Cái đáy bồ thường đóng bằng gỗ mù u. Vách bồ thì đan bằng tre phết cứt trâu để trám lỗ cho lúa không rớt ra ngoài; vách bồ có thể cao hơn hai thước. Đập đầy bồ rồi xúc lúa bằng thúng ra phơi hoặc giê.

Lại có cái bàn nhổ mạ. Mạ lúa mùa rất cao, thường được gieo xuống ruộng có nước. Khi nhổ thì nhổ bằng tay rồi đập vào chân để rửa bùn ở gốc mạ, xong dùng cái bàn nhổ mạ để đặt lúa lên. Bàn nhổ mạ làm bằng tre, cao từ nửa thước đến ngang ngực, có một cái chân nhọn cắm xuống đất hoặc có bốn chân để như cái bàn.

Chỉ vào cái trục, anh Đệ kể: “Có lần cách nay hơn ba năm, đi công tác khuyến nông ở huyện Càng Long, Trà Vinh, tôi gặp một cái trục người ta bỏ bên một chuồng bò. Tôi hỏi ông chủ nhà sao anh hổng xài nữa, ổng nói bây giờ xài máy rồi, nuôi bò chỉ để lấy thịt lấy phân chớ không cày bừa nữa. Tôi mới hỏi mua để đưa về trường, ổng rất mừng khi biết mục đích của mình rồi cho luôn”. Anh nói tiếp: “Cái trục này có từ cả trăm năm nay rồi, từ hồi mình canh tác lúa mùa chuyển từ đất phát cấy, nhất là ở những vùng trũng quanh năm ngập nước, đất không khô không cày được, khi nước về người ta chỉ lấy cái phảng phát cỏ xong rồi cào cỏ ra, rồi phải trục đất để đất không cứng”.

Riêng cái dao bứng lúa anh mới sưu tập thì hiện nay ở vùng ven của U Minh Thượng dân còn cấy lúa hai lần nên hầu như nhà nào cũng có dao bứng lúa.

Hay như năm 1994, đi Châu Thành, Trà Vinh, anh Đệ sưu tập được cái vòng gặt của người Khmer. Ông nông dân Khmer thách: “Thầy gặt được tôi cho thầy cái vòng gặt này”. Anh Đệ gặt ngon lành, ông nông dân nói: “Tui hổng ngờ thầy ở Đại học Cần Thơ mà cũng biết gặt như nông dân”.

Công cụ làm đất cầm tay ở đây còn có xuổng, leng, cuốc tai tượng…. Công cụ làm đất do trâu bò làm có bừa, trục, cày… Anh Đệ giải thích: “Tựu trung có hai loại cày ở ĐBSCL. Thứ nhất là cày đỏi; cái lưỡi giống hình cái mỏ con cá trê, cái cày này đặc biệt là để phá lâm, phá đất cứng. Còn cày bình thường trên đất nhẹ thì gọi là cày chét, cái lưỡi bằng để cắt đất lật qua”.

Các đoàn khách nước ngoài tới đây làm việc hay đi du lịch, họ thích nhất là đi xem ngân hàng giống lúa và cái “kho” nông cụ này. Anh Đệ nói:

- Ngoài chuyện bảo tồn, chúng tôi còn nhắm tới chuyện dạy cho sinh viên. Chúng tôi đã đào tạo được hai khóa ngành phát triển nông thôn, cả đại học và cao học, cho gần 200 sinh viên. Có những sinh viên chưa hề biết có những nông cụ truyền thống như vậy.

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Đệ kết thúc chuyện sưu tầm nông cụ của mình bằng một câu chuyện khác, cũng với cái giọng kề cà giản dị của một ông nông dân Nam bộ:

- Từ nhỏ tôi đi học một buổi, còn một buổi đi ruộng. Ba tôi làm được 20 công lúa mùa. Tới năm 1968, chính quyền trước họ phát động làm lúa thần nông, làm những điểm trình diễn giống IR-8 ở Vĩnh Long. Thấy giống thần nông ngắn ngày, năng suất cao, ba tôi muốn trồng thử vì trong vùng đó ai cũng làm lúa mùa cả. Làm lúa thần nông thì chỉ làm vào đầu mùa mưa khi mà mình chưa cấy lúa mùa. Thu hoạch xong hè thu thì ba tôi dành ra năm công đất làm lúa thần nông. Mình không kiểm soát được nước, chủ yếu cũng chỉ nhờ trời mưa, vậy mà năm đó lúa cũng trúng khoảng bốn tấn ngoài một héc ta. Lúc lúa chín sắp thu hoạch thì chim nó bu lại vì chung quanh hổng chỗ nào còn lúa mùa cả. Rồi thì nước lên, còn chừng hai tấc thì đụng bông lúa. Lúc đó ba tôi phải cất cái chòi lợp bằng rơm, sàn tre, cao hơn nước ruộng. Ba tôi cặm mớ cây xung quanh ruộng lúa chín rồi treo thêm mấy cái thùng, mấy cái lon rồi chuyền dây vô trong cái chòi này. Khi chim tới thì tôi kéo dây, vừa lắc vừa la. Rồi kèm theo cái nạn dàn thun để bắn đuổi chim…


_

Bài giống bài này, đã đăng trên giai phẩm Xuân Mậu Tý 2008 của Thời báo Kinh tế Sài Gòn.

tuyetdieu.com

Phù Sa Lộc

Anh bạn tôi là nhà báo, quen sử dụng máy đánh chữ từ khi còn trẻ. Khi tòa soạn bước đầu kế hoạch “vi tính hóa”, anh chẳng màng quan tâm, bởi “lưng lửng quan” nên anh đâu phải có bài theo định mức hằng tháng mà ban biên tập đã đề ra cho toàn bộ phóng viên. Tết năm đó, tổng biên tập yêu cầu anh viết báo xuân. Thì viết. Nhưng khi nhận lại bài viết, anh thấy nơi góc trái đầu trang, gần bên tít bài, có dòng chữ: “Nhanh chóng xóa mù vi tính” của tổng biên tập. Tự ái, anh dành ra một buổi học và thực tập cách nạp liệu. Dễ ợt. Phấn khởi, anh học cách save bài cùng một vài yêu cầu bức thiết mà anh cần biết để giải quyết những mắc mứu gặp phải khi biên tập bài cộng tác viên trên máy. Dần dà anh cũng học được khá nhiều điều bổ ích từ máy tính, do mấy phóng viên đệ tử chỉ dẫn.

Các bạn khuyên anh nên học một khóa vi tính nhưng anh chẳng quan tâm vì nghĩ mình chẳng sử dụng máy tính nhiều học làm chi cho mất công, nhất là cái đầu của mình như cái băng nhão, dung nạp những điều học được chẳng là bao. Phí công, hoài của!

Rồi cũng đến ngày anh về hưu. Lương hưu chẳng là bao, lại thiếu mất món tiền phụ cấp trách nhiệm khá lớn, anh phải viết bài gởi báo để kiếm thêm thu nhập. Vậy là anh mua cái USB, rồi lẩm nhẩm, thực hành các thao tác save bài từ máy vô USB và ngược lại, mất mấy buổi trời mới nhớ. Công việc đòi hỏi anh phải vô Internet mới có điều kiện tốt gửi bài cho các báo ở Thành phố Hồ Chí Minh, ở Hà Nội, bởi gửi bài bằng trang in hiếm khi được các họ sử dụng. Vì, bài viết nếu sử dụng được phải nạp liệu lại, sửa morasse lu bu, mất thời giờ rất nhiều. Vậy là phải học sử dụng Internet. Trầy trật mãi rồi anh cũng được mấy đứa con kềm cặp thành công. Gửi bài qua email quá tiện lợi. Dù đến tòa soạn “báo nhà” chẳng bao xa nhưng với phương tiện này anh khỏi mất công mặc quần áo, phóng xe đi. Bài báo và ảnh như bóng với hình. Đó là yêu cầu số một của các báo. Không có ảnh, bài hay cỡ nào cũng “vứt”! Nên anh phải sử dụng máy ảnh kỹ thuật số. Cái này dễ, chỉ cần đưa máy ảnh lên ngang mắt cân đối bố cục là bấm. Tuy nhiên để lưu ảnh vào máy tính anh phải nhờ con. Nhiều bữa không có đứa con nào ở nhà để nhờ lưu ảnh vào máy tính để gửi đi ngay, anh bực bội vô cùng. Không lẽ thúc thủ quy hàng? Anh nghĩ chắc nó cũng giống như save bài từ USB vô máy tính. Vậy là anh loay hoay làm thử. “Rùa” dẫn đường, anh thành công mỹ mãn.

Viết báo đòi hỏi phải có nhiều tư liệu tham khảo bổ sung nhằm nâng cao giá trị bài viết. Các bạn nói “gõ” Google một cái là có nhóc. Anh thử làm, quá đạt yêu cầu. Hàng bao nhiêu núi tư liệu giúp anh giải quyết nhu cầu bức xúc, điều mà trước đây anh phải ngồi hàng giờ, thậm chí có khi cả mấy ngày kiếm cho ra quyển sách, trang sách có tư liệu đó. Mà sách nhà anh thì đâu phải ít, lại “được” sắp xếp vô cùng lộn xộn bởi vợ và các con anh sau khi đọc xong! Như vậy không mất hứng viết cái mới lạ! Anh khoan khoái cười mỉm chi, từ nay ta đã có chiếc đũa thần, chỉ cần gõ một cái là nó “hóa” thành phép lạ ngay. Vậy là hàng bao nhiêu tạp chí, sách, báo tư liệu của anh trong phút chốc đã được cân ký lô cho đỡ chật nhà, bụi bặm, mối xông, vài ba tháng lại phải đem phơi nắng một lần nữa chứ. Tuyệt vời! Tuyệt vời hơn là vô Google, gõ bút danh anh một cái, hàng bao nhiêu bài báo của anh đều được sắp hàng tới mấy trang. Cha, cả thế giới đọc, sưu tra bài viết của mình. Hãnh diện thật. Khoái nhất là mấy bài viết của anh đã “mất tích” từ lâu, nằm chình ình trên website của một báo nào đó, chỉ cần “nhấn nhấn” mấy phát, a lê hấp nó đã chễm chệ vô kho lưu trữ của máy tính nhà anh rồi. Trên net, hầu như không thiếu tờ nào nên anh đọc “chùa” thoải mái. Tin tức cập nhật liền tù tì, nóng hổi, báo giấy làm sao bì. Hồi anh bị mất điện thoại, tính mua cái mới, con anh mở máy tính, truy cập net, ê hề hàng bao nhiêu chủng loại, từ giá bèo tới giá cứng, lại còn ghi rõ các chức năng của nó. Lạ một điều, truy cập tư liệu qua Google hoặc Yahoo! nếu gõ trật một chi tiết, hoặc sai chính tả, như có một con ma, nó nhắc nhở anh ngay để làm lại tốt hơn!...

Có Internet, đã hơn nữa, là anh còn liên lạc được với bất kỳ người bạn nào, ở bất cứ địa phương nào, kể cả nước ngoài, miễn anh chị ta có Internet. Cứ thăm hỏi nhau thoải mái, chẳng tốn là bao so với điện thoại. Hình ảnh chụp chung trong chuyến đi chơi đâu đó, về mail qua mail lại, lưu trong máy lâu lâu mở coi, còn được phóng lớn theo yêu cầu nữa chứ, sướng nào bằng. Sướng nữa là vừa viết bài vừa nghe nhạc từ máy tính. Ái chà, có người còn nói gắn cái webcam gì đó khi nói chuyện với nhau sẽ thấy được mặt nhau. Cái mới “độc”!

Với số vốn sử dụng máy tính và Internet như vậy, đi đâu anh cũng quảng báo sự tuyệt vời của nó với mấy ông bạn già. Nhưng kỳ cục, chẳng thấy lão nào hưởng ứng. Ai cũng ừ hử cho qua tang lề. Bực thật. Ngẫm nghĩ, anh mới biết, té ra cái đầu của họ đã “nhão” nên rất ngán sử dụng công cụ hữu ích hiện đại này. Giống như anh hồi trước kia thôi, không nhớ được nhiều động tác ra lệnh máy tính nên rất khổ sở mỗi khi ngồi vào máy. Rồi mọi bức bối cũng trở nên dễ chịu, khi anh bạn già của anh phát hiện một phương pháp học nhanh và dễ nhớ. Đó là học “tắt”, học với mấy anh làng nhàng, bấp bỏm vài ba “chiêu” sử dụng máy như mình, cách học “bình dân”. Còn làm theo cách dạy “hàn lâm” của mấy tay siêu máy tính thì dứt khoát sẽ khiến ta “nản lòng chiến sĩ”, “buông súng” là cái chắc vì phải đi qua nhiều công đoạn lu bu! Nhờ vậy mà anh học được khá nhiều điều để sử dụng máy tính được nhiều hơn. Mà máy tính thì còn có hàng hà sa số công năng khác mà anh chưa nắm hết, vừa tốt vừa xấu, đủ cả. Nó là thứ công cụ được anh tạm gọi là tuyetdieu.com.

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2007

Cập bến!

Entry này bị rớt liên tục vì đường truyền quá tệ khi chúng tôi cố gắng cập nhật hình ảnh, không biết một nút cổ chai ở đâu đó đã làm cho blogger.com trở nên khó đăng nhập từ Việt Nam trong mấy ngày qua. Mong các bạn thông cảm.



Mấy hôm nay không riêng Mblog bị "bỏ bê" mà nhiều công việc khác của METINFO cũng sao nhãng vì cả công ty tập trung vào việc… đỡ đẻ! Một đứa con mà từ lúc thai ngén đến khi hoàn thành là 18 tháng ròng rã vừa kiếm sống hàng ngày vừa tính chuyện tương lai. 9g30 sáng 11.11.2007 chúng tôi hân hạnh thông báo trạm tra cứu thông tin bằng màn hình cảm ứng (magic screen touch kiosk) đầu tiên của đồng bằng sông Cửu Long đã hoàn thành!

Bỏ lại sau lưng những ngày viết mã lệnh, sắp đặt thông tin, xử lý hình ảnh, tranh cãi ầm ĩ về giải pháp. Một công việc mà chúng tôi trước đó hoàn toàn không có khái niệm gì cho đến khi bắt tay vào thực hiện ngoài một ý tưởng và một niềm tin là sẽ làm được: "Chúng tôi sẽ mang thông tin (chỉ dẫn du lịch – mua sắm) của đồng bằng đặt ngay dưới ngón tay của quý vị!"

Còn rất nhiều khó khăn chờ đợi chúng tôi phía trước trong quá trình đưa kiosk này đi vào cuộc sống nhưng khi cùng chúng tôi chứng kiến giây phút hoàn thành và cũng là người đầu tiên sử dụng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Trương Công Khả đã nói: "Cái này quá mới, nó có giá trị ở chỗ làm nâng cao cuộc sống!" Sản phẩm này có giá trị hay không thì còn chờ thị trường lên tiếng nhưng chắc chắn lời động viên của TCK là rất có giá trị đối với chúng tôi lúc này

Đứa con "chữa trâu" này vẫn chưa có một cái tên! Và còn rất nhiều câu chuyện liên quan mà chúng tôi sẽ kể tiếp tại đây. Đặc biệt là về những người quan tâm đã khuyến khích, góp ý và giúp đỡ chúng tôi suốt 18 tháng qua mà nếu không có họ thì chúng tôi cũng không cập bến được.


_

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2007

Nghề tái hiện khoảnh khắc kỷ niệm

Khi mới khởi nghiệp (với tiền thân là Nhi Xuyên), một trong những dịch vụ chính của Metinfo là phục chế ảnh cũ.

Vào năm 1996 thì dịch vụ này được xem là rất mới mẻ. Máy in màu chưa có, ngoài việc in bằng máy in trắng đen thì chỉ còn cách dùng máy ảnh rồi canh chỉnh để chụp màn hình máy tính. Màu trên màn hình là một đàng và màu khi rọi ra ảnh là một nẻo, phải điều chỉnh vài lần mới tạm ổn nhưng vẫn không thể bằng cả máy in màu hạng bét hiện nay. Ngay một việc đơn giản là scan thì phải đến báo Cần Thơ hoặc nhà in Cần Thơ để quét nhờ.

Giao diện của PhotoSoap

Phần mềm thì lúc ấy chưa có PhotoShop mà thịnh hành là PhotoStyler (sau này Adobe thôn tính để có PhotoShop bây giờ) hoặc Corel PhotoPaint. Rất nhiều chuyện buồn vui quanh công việc thú vị này. Chỉ vài năm sau, cao điểm là khoảng năm 2003, số người tham gia dịch vụ mới tăng nhanh khắp cả nước. Công nghệ mới (phần mềm, thiết bị, giải pháp, vật liệu in...) xuất hiện dồn dập, giới làm nghề hào hứng sáng tạo đủ kiểu đến mà hoa cả mắt. Ảnh nghệ thuật và phục chế ảnh cũ bằng kỹ thuật số trở thành thời thượng.

Trong lĩnh vực phục chế ảnh cũ, có những sáng kiến độc đáo: những tấm kiếng thể hiện (in lụa + vẽ tay) chân dung toàn thân nam hoặc nữ ngồi trong những phòng khách sang trọng kiểu thôn quê, còn chừa lại một khoảng trống ở khuôn mặt. Mạng cộng tác viên rộng khắp rảo các làng quê nhận đặt hàng với hình thức thanh toán trả chậm hoặc trả bằng lúa. Hình gom về được đưa vào máy tính cắt gọt quấy quá rồi in phần đầu người ráp vào khoảng trống đã chừa trước đây, thuở đầu là đen trắng, sau này là màu đàng hoàng trừ một số nơi rọi giấy ảnh thì còn đỡ, còn bản in từ máy in phun không xử lý bề mặt nên phai rất nhanh. Đến mùa lúa mới thuê ghe đi... thu tiền làm ảnh. Bây giờ thì đi đâu cũng gặp bảng hiệu phục chế ảnh cũ.

Metinfo đã ngưng dịch vụ này lại vì không cạnh tranh nổi về giá, xin giới thiệu vài sản phẩm một thời của Metinfo:




Thứ Năm, 19 tháng 7, 2007

"Tác chiến" ở miền Tây

Miền Tây Nam bộ chằng chịt sông rạch, đầy ắp nắng gió, nghĩa tình và... rượu đế nên cánh nhà báo chúng tôi sau mỗi chuyến đi thường nghe trong con người mình lâng lâng tình cảm.

Huỳnh Kim

1.

Nhớ hồi năm 1993, cỡi xe Honda cánh én "phi" một mạch từ Cần Thơ tới Châu Ðốc, vượt sông Hậu rồi sông Tiền để ra biên giới Tây Nam thuộc tỉnh Ðồng Tháp viết phóng sự về huyện mới Tân Hồng ở dọc biên giới với Campuchia.

Làm việc với UBND huyện, ôm một mớ số liệu về diện tích khai hoang và năng suất làm lúa thuộc hạng nhất nhì vùng biên giới Tây Nam hồi ấy. Lại cắt đường đồng từ thị trấn Xa Rài ra cửa khẩu Dinh Bà trong lãng đãng không khí nghèo khó và buôn lậu. Cái háo hức lúc đầu về thành tích khai hoang làm lúa trúng mùa ở biên giới tự dưng tan dần trước cảnh dân tình nghèo khó dù chỗ nào đi qua cũng thấy lúa tràn đồng.

Trên đường rời cửa khẩu về, xe bị xì bánh sau. Gần bốn giờ chiều mà trời biên giới vẫn nắng gắt. Ngặt một cái, xóm làng hai bên đìu hiu, khô khốc và suốt hơn bốn cây số đường quê, không có chỗ nào vá xe. Dẫn bộ rã người mới hiểu ra rằng, thiếu dịch vụ tới mức này thì cái điều người dân nói với mình từ sáng tới giờ quả là "chân lý": dù có làm lúa trúng cũng không cứu nổi cái nghèo.

Về gần tới thị trấn, có một điểm vá xe. Nhà như chòi. Chỉ có ông chủ gầy gò đeo kiếng cận và con chó vàng thiêm thiếp ngủ bên cái vỏ xe treo lủng lẳng. Té ra ông chủ từng là thầy giáo từ Cao Lãnh lên đây dạy học cả chục năm rồi. Vợ và đứa con gái nhỏ đi ruộng chưa về. Tôi khoe về những con số khai hoang của huyện. Ông chủ lầm lì vá xe. Nửa giờ sau tôi chia tay ông thầy giáo già trước tuổi. Ông đòi tôi phải uống với ông một ly "xây chừng" rượu đế, rồi nói: "Tôi quý chú em. Nhớ ly rượu này, đừng có say xỉn mà nghèo đói. Tôi chỉ xin lưu ý chú em một chuyện mà lâu nay tôi ngẫm nghĩ hoài, chắc là trúng: xứ sở mình có làm lúa giỏi tới đâu cũng khó giàu có được".

Chuyến công tác đó, rời vùng Ðồng Tháp Mười, tôi đi tiếp ba ngày nữa về vùng tứ giác Long Xuyên thuộc hai tỉnh An Giang và Kiên Giang. Xong tôi viết bài “Ðồng bằng ơi!” gửi đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn. Tôi nhớ cái "tứ" tôi gửi gắm trong bài báo đó là đồng bằng sông Cửu Long ơi, người ở đâu trong đất nước mình khi mà đi đâu cũng chỉ thấy người ta ca... "bài ca cây lúa"?

2.

Lụt lội ở miền Tây không giống như ở miền Trung quê tôi. Quê Quảng Nam của tôi, tới mùa lũ lụt, chỉ cần qua một đêm nước dâng tràn bờ sông Thu Bồn, là đã thấy "đỉnh lũ" và bao nhiêu cảnh tang thương kéo dài hàng tháng trời sau đó. Mùa lụt lội ở miền Tây, kêu là mùa nước nổi. Con nước từ sông Mêkông tràn đồng Campuchia rồi tràn qua biên giới Tây Nam và... lừ đừ tràn ngập ruộng đồng các tỉnh trong vùng từ hai dòng sông Tiền, sông Hậu, kéo dài vài tháng. Các tỉnh ở thượng nguồn ngập nước, An Giang, Ðồng Tháp, Long An... rồi tới Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang... Năm lụt lớn, thậm chí mấy tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau cũng bị nước tấn công.

Tôi nhớ nhất kỷ niệm "tác chiến" trong hai mùa nước nổi ở miền Tây. Năm 1994, báo Tuổi Trẻ nhờ tôi "làm gấp" một bài khi hay tin nước đã tràn đồng mấy huyện đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu. Tôi đón xe đò tới Châu Ðốc vào quãng 11 giờ trưa. Thấy cảnh nước đã lé đé bờ sông thị xã và mênh mông trước mặt, tôi tạt vào bưu điện Châu Ðốc fax về (lúc đó chưa có e-mail) đề nghị tòa soạn cho "rao" trước, mời bạn đọc đón xem phóng sự trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật bài “Lũ lụt ở hướng An Giang". Sau đó, tôi vọt qua huyện An Phú, cùng mấy anh ở huyện đội chạy vỏ lãi khắp nơi, chỗ nào cũng mênh mông đồng nước, không biết đâu là sông Tiền, sông Hậu, đâu là ruộng vườn trước đó. Thích nhất là gặp được một đám cưới trên hai chiếc vỏ lãi đang ngược lên biên giới. Giữa trùng trùng nước lụt đỏ ngầu phù sa, bà con mình vẫn thảnh thơi dù đỏ, dù xanh, mâm lễ, cười nói vui vẻ đi rước dâu bằng vỏ lãi.

Tối bữa đó trời mưa tầm tã, tôi về tới Sài Gòn khoảng gần 11 giờ khuya và thức viết xong bài phóng sự với chùm ảnh rước dâu, kịp sáng bữa sau gửi Tuổi Trẻ Chủ Nhật như đã hứa.


Tới mùa nước nổi năm 2000, miền Tây Nam bộ chịu một trận lụt tồi tệ; nước "ngâm" từ tháng 7 tới tháng 12! Cả đồng bằng chịu không thấu, tỉnh nào cũng chờ cứu trợ. Một lần, vào quãng tháng 10, chúng tôi đi cứu trợ ở huyện Hòn Ðất trong vùng tứ giác Long Xuyên thuộc tỉnh Kiên Giang. Ði cùng là một anh bạn doanh nhân làm cho một công ty liên doanh với Ðức. Anh mê nghề báo, lúc nào cũng lủng lẳng máy chụp ảnh trước ngực như tôi. Tới giữa kinh Mướp Giăng, thấy chiếc vỏ lãi mình thuê nhỏ quá, sợ không an toàn, chúng tôi quyết định tấp vào bờ đổi vỏ lãi lớn hơn. Tôi và nhà doanh nghiệp này sang ghe sau cùng. Anh bạn tưởng vỏ lãi trống người là khó lật, anh đứng chồm ra mé ngoài vỏ lãi để chụp hình. Ðứng bên này, tôi chỉ kịp la lên "Coi chừng lật vỏ!" thì chiếc vỏ đã nghiêng hẳn về phía anh bạn. Nhờ gốc con nhà lính, tôi kịp phản xạ phóng mình lộn một vòng qua chiếc vỏ kề bên. Khi đứng lên, tuy hơi ê người, tôi đã kịp đưa máy ảnh bấm được một kiểu cảnh anh bạn đang lủm chủm lội vô bờ!

Cái tin ảnh hi hữu đó, tôi gửi đăng trên tờ The Saigon Times Weekly. Sau đó, anh bạn tôi nhận được e-mail từ Úc của một người bạn, bảo rằng, trong lũ lụt miền Tây, hổng ngờ có nhà doanh nghiệp quá ư là... lãng mạn? Còn bạn tôi thì trả học phí một chầu rượu đế cho bài học: không phải chiếc ghe nào ở xứ mình cũng giống chiếc ghe nào!

Ảnh: Trương Công Khả

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2007

Nỗi niềm thiết kế logo

Trần Kiêm Mỹ Xuyên


Chúng tôi vừa hoàn tất một đơn đặt hàng! Chuyện thường ngày ở huyện này lại làm chúng tôi lúng túng và vất vả.

Khách hàng đặt chúng tôi thiết kế logo. Sau khi bàn bạc nhiều lần, vào tận doanh nghiệp thăm, làm phác thảo trao đổi thì công việc có vẻ rắc rối. Ý kiến khách hàng liên tục thay đổi trái ngược nhau (cần nói rõ là cả hai bên đều rất thiện chí mong muốn kết thúc sớm).

Hình như khách hàng của tôi cần một bức tranh chứ không phải một biểu tượng kinh doanh mở đầu cho một chương trình xây dựng thương hiệu. Bất ngờ là sau đó chúng tôi mới biết suốt thời gian qua thực tế là chúng tôi làm việc với một cậu bé 12 tuổi!. Chả là ông khách hàng chuyển cho con trai xem và điều chỉnh và chúng tôi đã liên tục phải chạy theo một cậu bé.

Chuyện trên đây (theo một kịch bản khác, cậu bé thay bằng rất nhiều ai đó) thường xảy ra cho loại dịch vụ đặc biệt này. Doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến logo nhưng ít doanh nghiệp thực sự hiểu chính xác (điều cần biểu đạt) về chính mình. Tâm lý chung là:

  • Bán gì treo nấy. Du lịch thì phải có chim, viễn thông thì phải có tia chớp hoặc sóng…
  • Kể lể dài dòng. Ôm đồm dịch vụ.
  • Đưa cho bằng được tên doanh nghiệp (viết tắt hoặc để nguyên) vào logo.
  • Việc duyệt logo ít khi do chủ doanh nghiệp quyết định mà do rất nhiều người (ít hiểu biết về mỹ thuật và không hiều về doanh nghiệp cần biểu tượng) chỉ vì những người này là thân cận hoặc “có trình độ, bằng cấp cao”.

Có một số nguyên tắc nếu mà bạn quan tâm thì tránh được tình trạng bỏ thì thương vương thì tội về sau khi chọn thiết kế một logo.

  • Logo không phải là thương hiệu. Logo chỉ thể hiện về mặt thị giác thương hiệu của bạn.
  • Luôn kiểm tra phác thảo trên bản đen trắng và chỉ khi hài lòng sẽ xem xét các phương án màu.
  • Yêu cầu người thiết kế đưa ra không quá 30 từ để mô tả, thuyết minh logo của bạn, ít hơn càng tốt.
  • Còn rất nhiều việc khác cần làm nhưng đến lúc này thì thuộc trách nhiệm của nhà thiết kế, hãy tin tưởng họ.

Bạn cũng có thể cho rằng logo không ảnh hưởng đến chuyện làm ăn, bạn vẫn phát đạt liên tục? Đúng. Nhưng thử nghĩ đến một logo xấu mình phải đeo, bộ mặt chính mình không được ưa chuộng thì cũng đáng suy nghĩ lắm chứ.