Hiển thị các bài đăng có nhãn Về miền quá khứ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Về miền quá khứ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2008

Cái bánh ít ngày xưa

Lê Duy


Bánh ít hay bánh ích? Hồi nhỏ tôi đã thắc mắc như vậy. Nhưng lúc ấy bà tôi nội đưa cho cái bánh "ít", rồi gõ đầu bảo bánh này mà ít sao? Do phát âm nên người dân miền tây không phân biệt được là ích hay là ít. Mà có quan trọng gì đâu cơ chứ. Miễn sao có cái để mà thưởng Xuân, ăn Tết. Ít nhưng mà không ít.

Ngày xưa, chúng tôi mong Tết dữ lắm. Đầu tháng 12 âm lịch đã nôn nao rồi. Lúc đó thường là 28-29 tết. Thường khi ấy gió chướng về thổi phần phật, mấy cây mai chỉ toàn nụ xanh, ngã qua ngã lại. Không khí có cái gì đó khan khác, vui lắm, không giống ngày thường. Bọn trẻ chúng tôi càng nôn nao tợn. Khi bà nội tôi bảo rửa lá chuối gói bánh ít thì Tết đã đến gần. Những tàu lá chuối chọn cho lành nguyên, rọc ra và xé thành những miếng khoảng 30 cm vuông. Lá đem rửa cho sạch rồi, cắt tròn góc rồi phơi một tí nắng cho mềm lá. Mẹ tôi thì nấu đậu xanh cho nhừ rồi nêm nếm để nguội. Vắt đậu thành những viên nhân. Dừa rám-tức không quá già-đem nạo rồi xào với đường. Loại đường thẻ mà ngày nay ít khi thấy có bán trên thị trường. Dừa xào xong cũng vắt thành nhân. Công đoạn của bà tôi làm là chuẩn bị bột. Bột nếp xay ra từ mấy ngày trứơc, sau đó cho bột nuớc vào trong cái bao "bồng bột". Loại bao làm bằng vải dầy chỉ cho nuớc rỉ ra chứ bột thì còn lại. Sau một ngày đêm cục bột còn lại trong bao phân làm hai, nửa đem xắt phơi khô. Còn phân nửa để trắng như vậy để gói bánh dừa ngọt. Còn bột khô thì nhào nặn với đường nung chảy làm thành thứ bột ngà ngà như mật, thơm lừng mùi đường thẻ. Bột này ngọt dùng để gói nhân đậu xanh.

Tôi chỉ được sai vặt. Lúc thì rửa lá lúc thì nạo dừa, chụm lửa chứ chưa khi nào được mó tay vào việc gói bánh. Vì công việc này đòi hỏi phải có nghề. Nếu không, khi chín, bánh sẽ không đứng thẳng mà bò dài ra. Mẻ bánh hấp được chín đầu tiên bao giờ cũng là để xem bột có khô không, có nhiều nước không. Chúng tôi hay giành nhau mấy chiếc bánh đầu tiên này, nên khi bắt đầu gói bánh thì tích cực ngồi gần giúp bà, giúp mẹ; lúc thì chụm lửa, lúc thì lấy cái này cái kia. Chúng rất ngon vì cái bánh ít đầu tiên mình được nếm trước mọi người nên thích lắm. Ôi cái mùi thơm của đường, cái vị béo của dừa, của đậu. Tất cả kết tinh thành một phần cái mà ta gọi là quê hương

Mấy ngày Tết trôi qua, rổ bánh to đùng vơi dần. Bà tôi nói không nhờ bánh ít thì làm sao cho lũ trẻ chúng tôi có quà bánh ăn cho đủ trong mấy ngày xuân. Bây giờ, bà già rồi không còn đủ sức ngồi gói, mẹ tôi cũng vậy. Nhưng Tết cũng có bánh ít mà là bánh mua từ chợ về, đặt người gói để ăn Tết. Các con tôi cũng có bánh ít ăn Tết. Nhưng chúng đâu có biết được cái háo hức ngày xưa mà tôi từng tận hưởng mỗi khi cả nhà chuẩn bị gói bánh. Nó không chỉ là nổi nôn nao trẻ con mà còn là sự trào dâng của không khí Tết, của mái ấm gia đình, của quê hương. Sự bận rộn, bôn ba của cuộc sống làm ta mất đi quá nhiều những ký ức đẹp đẽ ngày xưa.

QUẾT BÁNH PHỒNG ĂN TẾT

Lê Duy

Giữa cái nắng hanh khô và gió phần phật của mùa giáp Tết, tiếng rao của bà bán bánh vang lên xé toạc cái yên ắng đến nao lòng. “Phồng đê..ê” . Mấy chữ “bánh phồng đây” nói còn chưa trọn tiếng mà mọi người trong con hẻm ai cũng biết đó là gì rồi.

Cái xề đầy ắp những cái bánh phồng đã nướng sẵn, đựng trong một cái túi nylon to đùng. Cái xề nằm lắc lư trên chiếc nón lá như che mát thêm cho người bán giữa buổi trưa oi ả. Không một lời đáp lại, tiếng rao nhỏ dần rồi mất hẳn ở đầu hẻm.
Tiếng rao đi rồi nhưng hình ảnh cái bánh phồng ngày xưa ập đến với đầy nhóc những ký ức. Thời đó cái ăn còn khó. Thời đó quà rong còn là xa xỉ, những miếng ngon, những thứ cầu kỳ đều để chờ Tết. Đưa ông Táo xong học sinh đều được nghỉ học. Những ngày chờ Tết rất là vui. Vui vì chờ chiếc áo mới mà mùng một mới được mặc, vui vì nồi bánh, nồi thịt sẽ được múc ra khi cúng rước ông bà. Những ngày giáp tết là dịp chúng tôi mang chút quà về quê thăm họ hàng. Là dịp mang từ quê ra những thứ chỉ ở quê mới có, trong đó có bánh phồng.
Những ngày này về quê là chỉ đi hết nhà dì này, cậu nọ. Mọi người đều rãnh rang vì đã gặt hái hết rồi. Chỉ có mỗi một bận bịu là công việc quết bánh phồng. Cả xóm từ sáng sớm đã vang tiếng thùm thụp của chày cối. Cục nếp dẽo cứ bịn rịn níu kéo cái chày khiến cho người giã mím môi hết sức mới kéo nổi chày lên và giáng xuống lần nữa. Sự níu kéo cứ thùm thụp mãi như sự giằng co giữa ký ức và hiện tại, cho đến khi cục nếp đã được giã nhuyễn. Tôi hay đứng nhìn cách mà mọi người làm chí bánh phồng thành một tấm bánh tròn trịa. Những phần nếp nhỏ nằm trên lá chuối xanh, người ta lấy ống tre thoa mỡ lăn tráng thành bánh phồng tròn. Nhà nào cũng quết bánh, nhà nào cũng có bánh. Sân nhà ai cũng có những liếp tre phơi đầy bánh phồng. Vậy mà nhà này đem qua nhà kia tặng cho nhau từng chục bánh phồng nếp như là quá Tết. Trong nhà đầy nhóc bánh phồng nhưng dì Năm luôn miệng hỏi cậu Út mày có đem cho bánh chưa, như là một lễ nghỉ ngày Tết, thiếu thì không được.
Buổi tối, những ngọn gió bấc mặn chát mùi biển mang theo mùi thơm của nếp từ những đám cháy bập bùng, rãi rác khắp nơi trong xóm. Mọi người hay trải chiếu ngồi trước hàng ba với một ấm trà ủ trong bình bằng vỏ dừa và một mớ bánh phồng nướng từ rơm. Kẹp tấm bánh vào giữa hai miếng tre. Phải nhanh tay lật qua lật lại trên lữa bánh mới phồng đều và không bị khét. Độ phồng của bánh là thước đo tay nghề của người làm bánh và chiếc bánh nào nướng xong đâm cây tăm xỉa răng vào mà ngập lút thì đạt.
Giờ thì lâu rồi tôi không thấy cảnh quết bánh phồng, không còn chứng kiến những đêm nướng bánh trên rơm. Nhưng bánh phồng thì vẫn được mang đi bán. Bán cho những người không còn có thời gian với ký ức như tôi, có thể như bạn nữa. Tiếng rao bán bánh phồng đi mất rồi, chỉ còn lại một nỗi tiếc nuối vô hạn và một thứ lo lắng: liệu ngày nào đó người ta sẽ không còn làm bánh phồng? Tôi muốn có một chiếc bánh nướng rồi hay chưa nướng cũng được và một mớ rơm. Để tôi đốt lên ngọn lửa gìn giữ ngày xuân xưa.


Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2008

Trà Vinh, những đêm gió bấc



Phù Sa Lộc

Hàng chục năm qua, cứ hễ vào những ngày lộng bấc, nhất là vào buổi tối, là tôi lại nhớ tới thị xã nhỏ bé đầy bóng sao dầu cổ thụ Trà Vinh. Tôi nhớ đến căn nhà mái tôn thấp, nằm lọt thỏm dưới hai “con đê” cao là đường Lê Quang Liêm (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) và đường Trần Quốc Tuấn (đường số 2). Đó là căn nhà tôi trọ học những năm phổ thông trung học. Cùng với tôi còn có năm ba anh em đồng hương Cầu Kè “ăn cơm tháng” tìm lấy cái chữ cho cuộc đời mình. Vì vậy căn nhà rộn rịp vào ban ngày tuổi trẻ chúng tôi. Nhưng đêm xuống lại thanh vắng bởi mỗi đứa “chiếm ngự” một góc với cuốn tập học bài hoặc cây viết trên tay giải bài toán hay viết bài văn nào đó. Càng vào sâu đêm, sự thanh vắng càng rõ và buồn nhất là trong những đêm gió bấc cuối năm.


Căn nhà ngoài nằm dưới “thung lũng” của một ngã ba đườngnày còn lọt thỏm dưới “rừng” sao dầu dày mịt xung quanh. Những đêm cuối năm, gió bấc oằn oại kéo lê tiếng rít ghê người trên những ngọn sao dầu già cỗi nghe buồn tê tái. Một vài cơn mưa muộn lành lạnh phất vô lòng. Dài trên đường, tiếng gõ mì nao nao từ xa vọng lại, ngày một gần hơn. Âm thanh hai thanh tre chạm lắc cắc vào nhau sao mà não nuột. Bụng dạ đói cồn cào. Vậy là kêu một tô, nhấm nháp vị ngọt ngon của tinh bột hòa trong mấy miếng thịt bé tí nóng hổi nước lèo húp ấm cả thần hồn.

Đêm càng về khuya, tiếng gió lùa trên tàng sao dầu cổ thụ càng buồn. Rồi, không sót đêm nào, trong không gian tê lạnh ấy, có tiếng đàn ghi ta bập bùng, phát ra từ mấy ngón tay của một người sau hè nhà tôi trọ. Đó là một anh chàng trẻ tuổi, ban ngày đi đâu không biết, chỉ xuất hiện vào tối khuya như thế nầy. Tiếng đàn anh như đốm lửa cháy sáng lập lòe trong đêm vàng vọt ánh đèn phố thị, vừa làm ấm lòng người xa xứ như tôi vừa làm nó lạnh hơn với nỗi buồn không tên gọi. Tiếng đàn ghi ta xa vắng mênh mông qua từng âm điệu boléro dập dờn sóng nước. Anh là nghệ sĩ nghiệp dư “chuyên trị” nhạc Trúc Phương. Hết “Nửa đêm ngoài phố”, “Tàu đêm năm cũ”, “Hai chuyến tàu đêm”, “Mưa nửa đêm”, thì tới “Đò chiều”, “Bóng nhỏ đường dài”. Anh cứ dẫn lòng tôi đi khắp mọi miền đất nước, các chuyến xe, chuyến đò với những buồn vui tình đời, tình người, tình yêu miên man bất tận. Hết đàn, anh lại ca. Tiếng ca trầm ấm của anh, cũng như tiếng đàn, làm lòng tôi chùng xuống. Không chùng xuống sao được, khi: “…Thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người. Mà yêu thương trót trao nhau trọn lời (…) Nửa đêm lạnh qua tim. Giữa đường phố hoa đèn. Có người mãi đi tìm. Một người không hẹn đến. Mà tiếng bước buồn thêm”... Tiếng hát anh hòa cùng tiếng ghi ta, tiếng gió hú trên cao cùng những cơn lạnh lùa que khe vách lá thấm vào tôi biết bao nỗi niềm. Đêm thực tại và đêm trong ca từ Trúc Phương như hòa vào nhau làm một. Dù chưa biết yêu nhưng tôi cũng nghe yêu lắm rồi những cô thiếu nữ xuân thì lãng mạn, gây buồn trong ca từ nhạc sĩ đồng hương này: “Đường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn. Đôi khi nhầm lỡ đánh mất ân tình cũ. Bao năm qua rồi còn nuối tiếc. Nghe lòng đầy giá buốt. Thương nhau rồi. Xa nhau rồi. Một lần dang dở ấy. Đêm lạnh vui với ai?”… Âm hưởng của tiếng đàn, giọng hát, lời ca như càng lúc càng đi sâu vào lòng tôi. Nó thẩm thấu từ ấy cho tới tận bây giờ, khiến tôi dù đi đâu, ở đâu, những đêm gió bấc tràn về rào rạt trên tàng cây cao là lòng tôi buồn rượi, nhớ về Trà Vinh những năm 1960 ấy. Mộng mị. Lãng mạn. Xa vời. Nhưng không nguôi luyến nhớ!

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2008

Ẩm thực Nam bộ, đau đáu hương vị cội nguồn

Vũ Thống Nhất

Món ăn, xét bề ngoài, chỉ là cái đích của sự thỏa mãn vật dục. Nhưng đi sâu, ta vô cùng ngạc nhiên thấy nó biểu hiện trình độ văn hóa vật chất thì rất ít, nhưng biểu hiện trình độ văn hóa tinh thần của dân tộc thì rất nhiều” (Đại văn hào Balzac). Món ăn của người Việt đặc sắc, nổi tiếng đến nỗi ông Phi líp Kốt lơ, cha đẻ của Ma két ting hiện đại khuyên là nên lấy “ẩm thực” làm đột phá khẩu trong chiến dịch truyền bá thương hiệu Việt trên toàn thế giới. Ẩm thực dân gian, cách thức ăn uống của từng vùng, từng làng xóm được bắt rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc của địa phương. Và là một nội dung quan trọng góp phần tạo nên bản sắc văn hóa, phong vị dân tộc, phong vị quê hương, tác động rất lớn vào tâm tư tình cảm, vào cách ứng xử của mỗi con người.


Món ăn Nam Bộ đặc sắc ở chỗ nó được tạo ra, mang sắc thái riêng, hương vị ngọt ngào riêng bởi hơi đất miệt vườn mênh mông, vị ngọt sông rạch ào ạt dâng tràn mùa lũ, khí trời lồng lộng gió biển Tây Nam, cái uy nghi thâm u của lớp lớp rừng già đồi núi nơi đây. Đó chính là “nguyên liệu” đầu tiên, chỉ có cho ẩm thực vùng châu thổ này, nơi đã trở thành “đất lành chim đậu”, mưa thuận gió hòa, ngày càng trù phú, phồn thịnh: “Ruộng đồng mặc sức chim bay/ Biển hồ lai láng mặc bầy cá đua”. Và vì vậy không thể có “gạo Chợ Đào” thứ hai, món lẩu mắm giữa “Hà Thành hoa lệ” do chính tay người An Giang nấu cũng không dễ qua được “hàng chính gốc”…

Mê Kông lại là con sông giàu cá tôm đứng hàng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau sông Amazon của Nam Mỹ. Vùng hạ lưu sông Mê Kông thuộc Việt Nam có hơn 1.200 loài thuỷ sản, trong đó hơn 60 loài có giá trị kinh tế, tập trung ở hai họ cá Chép (Cyprinidae) và cá Tra (Pangaciidae), sản lượng ước tính có đến 2 triệu tấn/năm. “Xóm trên giăng lưới /xóm dưới bủa câu”. Trong thực tế, khu vực này đóng góp đến 85% tổng sản lượng thuỷ sản nội địa khai thác được của cả nước. Cho đến hiện nay, dù có phần thua sút so với trước đây, năng lực cung ứng cá nước ngọt của vùng châu thổ vẫn là “số zách”, khó nơi nào bì kịp.


Có người nhận xét rằng, ẩm thực Nam bộ như một cô gái thôn quê, không cần trang điểm vẫn đẹp. Anh Bảy, một nhà báo lâu năm kể khi về Sóc Trăng, nhà văn hóa Sơn Nam đã nói về món cá rô kho tiêu, “món ruột” của đồng bằng Nam bộ như thế này: cá rô là chúa của cá đồng, nước mắm là tinh túy của đại dương, rắc chút tiêu là lấy hương của đồi núi… Chỉ một món ăn dân dã mà gom cả hương hoa đất trời, thể hiện văn hóa của một xứ sở. Trên mảnh đất tận cùng phương Nam này, con người đã tận dụng tự nhiên, thỏa chí sáng tạo ra những món ăn độc đáo thể hiện cái cốt cách, dấu ấn của những người một thời đi mở cõi - đó là bản sắc của khẩn hoang, phóng khoáng, không cầu kỳ câu nệ.


Ẩm thực Nam bộ (và Việt Nam) ẩn chứa sức mạnh văn hóa nặng lắm. Nó không chỉ liên kết không gian, thời gian; truyền thống, hiện đại mà cả tâm linh, tư tưởng con người nữa. Trong khuôn khổ chương trình “Mê Kông – Dòng sông kết nối các nền văn hóa” tổ chức tại Washington vừa qua, nghệ nhân Nguyễn Thị Xiềm, 67 tuổi (Trà Nóc - Bình Thủy) đã biểu diễn đổ bánh xèo, gói bánh tét, bánh ít trần... được công chúng, nhất là Việt kiều xuýt xoa tán thưởng. Nhiều người mời bà về nhà riêng, tặng quà… Cái ngon chưa nói nhưng việc bà tự tay chọn gạo xay bột, kiếm dây cột bánh đã đánh thức cả miền ký ức xa xăm của người Việt xa xứ, làm sống dậy tình dân tộc, nghĩa đồng bào. Chả nói đâu xa, mới gần đây, ngồi trong quán cà phê giữa đất Cần Thơ, trời mưa lất phất, một đồng nghiệp đã bần thần “ăn bánh tét bà Mười tự nhiên thấy nhớ ngoại quá. Ngày xưa ngoại em hay nấu như vậy”. Chiếc bánh bình thường nhẹ hều mà sao có lúc oằn nặng suy tư, tình cảm đến vậy! Thưởng thức miếng bánh mà vụt òa trong tâm thức họ là hình ảnh dòng sông bến nước thủa ấu thơ, là mẹ già lam lũ cặm cụi bên nồi bánh tét khi xưa, là khói rơm đốt đồng thơm thơm bay tỏa chiều tà, là hương vị quê hương có cây cầu khỉ có buổi tát đìa, như chùm khế ngọt, như cánh cò bay… “Tình yêu đất nước là sự thương nhớ, thèm thuồng món ăn mà cha mẹ cho ăn lúc mình nhỏ tuổi". Theo thời gian những món ăn mộc mạc, đơn sơ đó; những hương vị đậm đà đó vẫn in chặt, quyện vào tâm thức dù họ có rời xa đến đâu. Và thật lạ, càng xa lại càng đau đáu đến rã rời nỗi nhớ quê. Ra vậy, dưới lớp áo sặc sỡ của văn hóa ẩm thực là cái cốt lõi đạo lý tình người của dân tộc Việt chúng ta.

Nhà văn Vũ Bằng đã dẫn trong lời nói đầu tập sách Miếng ngon Hà Nội như vầy “Tại kinh đô Trương Hàn thấy lá ngô rụng giếng thu thì sực nhớ đến rau thuần, cá lư và muốn treo ấn trở về quê cũ”. Bản thân ông cũng cồn cào da diết, quay quắt trong nỗi nhớ Hà Nội hàng mấy chục năm trời mà mượn văn chương gởi tình cho nơi xa, mà tạo nên thiên tùy bút tuyệt phẩm dài hơn hai trăm trang. Câu chuyện ăn uống được thăng hoa thành văn hóa ẩm thực cả một vùng miền.


Chị bạn lại nói ăn giống như thở, khi thiếu mới thấy không chịu đựng nổi. Chị đã mua một trái chuối nướng ở Bangkok giá 8000 đồng Việt Nam vì quá nhớ thức ăn Việt. Chuối nướng là món ăn của trẻ con đã thành một niềm thương nỗi nhớ giằng xé tâm can khi đi xa nhà vậy đó! Lại nhớ, mấy năm trước có kẻ hoài hương bồn chồn lang thang lê gót đi tìm tiếng lanh canh của chiếc cóng tre múc nước chấm bên mẹt bún chả đầu Ô Quan Chưởng, mùi thơm gánh xôi xéo đậu xanh rưới mỡ hành phi vàng ươm đầu phố Nguyễn Du khi hương hoa sữa còn đậm đặc quanh hồ Thiền Quang… Mỗi món ăn là một hương vị, một niềm vui, một gợi nhớ và tất cả những thứ đó hội lại thành một quá khứ thân thương. Món ăn làm khổ người đi xa nhiều hơn bạn từng nghĩ.

“Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê” (Vô đề-Sơn Nam). Cái thời chúng ta ăn để no đã qua rồi và thế giới càng hiện đại người ta lại càng muốn gần với thiên nhiên hơn và coi đó chính là chất lượng của cuộc sống hôm nay. Chương trình "Ẩm thực khẩn hoang Nam bộ" tạo ra cả một trào lưu ẩm thực hướng về cội nguồn chốn quê, thủa xa xưa khẩn hoang giữa thời hội nhập. Những món ăn mộc mạc, “hương đồng cỏ nội” như cá lóc nướng trui, rắn nướng lèo, mắm kho, mắm sống, chuột đồng rô ti, lươn hấp trái bầu, ếch xào lăn, cá rô kho tộ, cá bống dừa kho tiêu, canh chua cá lóc, hủ tiếu Mỹ Tho, tôm lụi Bạc Liêu, nấm tràm Phú Quốc... vẫn lên ngôi, trở thành đặc sản; vẫn khuấy động thực khách ngay chốn phồn hoa đô hội. Và họ còn chọn cách thưởng thức nó theo kiểu dân dã nhất mà mọi người có thể. Kể sơ cách nướng (chưa động gì tới chất liệu nghe) cũng muốn kêu… “ba xị” rồi (nướng than hồng, nướng trui, nướng mọi, nướng lu, nướng rơm, nướng đất sét, nướng ống tre…). Món lẩu mắm Châu Đốc, “kỳ thú phương Nam” sành điệu phải đủ hai mươi mấy thứ rau đồng nội như cù nèo, tai tượng, càng cua, bông so đũa, bông điên điển... Món “Cá cơm đệ nhất nem” mà nghe nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hữu Hiệp (An Giang) kể lại dứt khoát thực khách phải “đùng đùng nổi giận” đi lùng bằng được: cá cơm rửa sạch vảy ngâm nước muối cho đến khi thịt cá tét làm hai thì vớt ra, gỡ bỏ xương, ngâm trong nước dừa tươi. Lại vớt ra cho ráo, đổ thịt cá lược qua vải xô, vắt khô, quết nhuyễn với tỏi nướng, ướp đủ gia vị (muối, đường, mỡ, tiêu, nước củ riềng, thính…). Nắn thành viên, gói vòng trong bằng lá chùm ruột non, rồi lá vông nem, ngoài cùng mới quấn lá chuối, cột lại theo hình chữ thập… Khi cần cầu kỳ, “ăn cho đáng mới ăn” thì ẩm thực Nam bộ cũng đâu thiếu món khiến thực khách nghe qua đã “lên ruột”, bắt thèm. Như tự nhiên vậy, như tri ân người mở cõi, ẩm thực Nam bộ vẫn luôn chứa đựng cả một thế giới sản vật chan hòa chất liệu, màu sắc, vẫn mang trong mình hơi thở của vườn rộng sông dài.


“Thú quê thuần hức bén mùi” (Truyện Kiều), cụ Nguyễn Du đã chỉ ra cái giá trị nguồn cội của ẩm thực. Nó thấm vào máu thịt ta từ lúc nào không hay, khi xa mới cồn cào lan tỏa, mới dằng dặc nỗi nhớ; bàng bạc phiêu diêu trong tâm tưởng, khó mà phân chia, cắt lìa được lắm. Và các mẹ, các chị nhiều khi vô tình không nhận ra hôm nay đang lụi cụi bên bếp chính là lúc họ đang dệt nỗi nhớ khôn nguôi về gia đình, về cội nguồn cho người thân họ ngày mai.

_______
Ảnh: Trương Công Khả, Cẩm Nhung

Thứ Ba, 22 tháng 1, 2008

Đình Bình Thủy

Bùi Văn Bồng

Đình xưa mái thẫm màu rêu
bên sông vàng nắng chim kêu xanh vườn
trải thăng trầm, ngấm vui buồn
ngôi đình nhuộm tím hoàng hôn những chiều


Người xưa mở đất dựng lều
nâng bông lúa, cắm cây nêu giữa đồng
mất mùa cắp rá ăn đong
''sống chung với lũ'' vẫn không sá gì
trên phù sa vững bước đi
dễ đâu té xụi mỗi khi qua cầu


Nối đời có trước có sau
đào kênh, cày cấy, bắc cầu quanh năm
khai hoang giữ đất tảo tần
mồ hôi trộn máu mấy lần phù sa


Mái đình gợi khúc dân ca
còn đây dấu tích ông cha một thời
rêu phong mà sáng khoảng trời
lặng im mà biết bao lời xưa sau


Trước thềm rụng trắng hoa cau
tiền nhân dường mới đi đâu vắng nhà
bao đời mà chẳng cách xa
bóng ai in bóng tường hoa chiều vàng.


Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2008

Ký ức Chè

Ký ức Chè là một cuộc hội ngộ giữa 5 quán, người nấu chè đã thu
hút hàng trăm người đến Nhà hàng Hoàng
Cung
(Cần Thơ) thuộc Công ty LD Sài Gòn Cần Thơ đêm 19.01.2008. Cuộc
hội ngộ này còn có tên “Điểm đến cuối tuần”.
Đây là một hoạt động trong
chuỗi chương trình xây dựng mô hình hỗ trợ các cơ sở sản xuất nhỏ khắc họa dấu
ấn trong quá trình hội nhập do Văn phòng Cần Thơ của báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức với sự tài trợ của
công ty Casuco. 14 món chè Cần Thơ và Huế trong không gian hoài niệm về tuổi học
trò được sự đồng cảm của tất cả mọi người tham dự. Được biết, Hoàng Cung sẽ duy
trì đêm hội ngộ vào thứ bảy và chủ nhật như một điểm đến cuối tuần.
Mấy hôm nay người Cần Thơ ngạc nhiên và thú vị với một event Chè tại nhà hàng Hoàng Cung khi:
"Bất chợt nhìn thấy một banner “ký ức Chè” ở góc phố

Bất chợt nhớ tiếng rao chè thời đi học

Khoảng khắc nhớ con đường đá đậu, quán chè bưởi Lasan (*)"







Hàng trăm người hảo ngọt đã đến









Có 14 loại chè được trưng bày ấn tượng, chủ yếu là chè miền nam: đá đậu, chè bưởi, chè khoai môn, chí-mà-phù, long tu, trôi nước, đậu trắng...





















Nhà văn Tôn Thất Lang cùng gia đình mang đến cuộc hội ngộ hương vị lạ của xứ Huế: chè đậu ngự và chè thịt heo quay (có chút sáng tạo khi bọc bột + thịt quay trong cùi trái nhãn nhục).







Không gian chợt trầm lắng khi tiếng saxo vang lên những bài Ngày xưa Hoàng Thị, Hạ Trắng...




Chương trình bắt đầu một cách hào hứng khi thầy Lê Văn Quới lừng danh với tài dạy Văn tại trường Châu Văn Liêm nói về “Con đường đá đậu” cùng những ký ức về chè của tuổi học trò.





Vọng cổ về… chè, một bài hát đã góp phần củng cố tên tuổi của nghệ sĩ Út Trà Ôn do ca sĩ Anh Đào của nhà hàng Song Quê lên trình diễn.




Nghệ nhân Hoài Thương (trước đây là một nhà giáo môn Văn có tiếng) kể những kỷ niệm thời đi học, những mối tình đến từ… quán chè.




Đại diện những quán chè có tiếng tại Cần Thơ lên nói về chuyện nghề bán chè cùng nghệ thuật nấu chè.








Ông Lê Thanh Quý, giám đốc Sài Gòn Cần Thơ, nhà đồng tổ chức bày tỏ mong muốn được góp phần tạo nên một Điểm hẹn cuối tuần cho Cần Thơ và đưa gánh chè từ các quán nhỏ vào các nhà hàng lớn.




Đến lúc ăn chè!
Một buffet chè lần đầu tiên tại Cần Thơ. Tây, ta, trẻ, già đều hào hứng. Đại diện các quán chè đi chỉ dẫn cách ăn các món chè.









Một du khách đi ngang tò mò nhìn không khí chộn rộn cũng được mời vào ăn chè.





Những người này không có thiệp mời! Nhưng tình yêu chè chứa chan trong mắt họ nên đã được đón chào và nhờ vậy mới có chùm ảnh và câu chuyện kể ở đây.



Những… nhà chè tham gia cuộc hội ngộ









Trong lúc yêu cầu giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm dành cho các cơ sở kinh doanh đang làm lúng túng cho chính cơ quan quản lý lẫn hộ kinh doanh nhỏ, trong lúc các cam kết hỗ trợ vẫn chỉ là lời nói suông thì “Ký ức Chè” là một hoạt động rất thiết thực. Các quán chè sẽ không ra biển lớn nhưng cũng cần biết cách đón khách từ khơi xa đến, cũng cần tập quen dần với việc rời không gian nhỏ dành cho học trò để vào các sảnh lớn có đẳng cấp nhiều sao.

Mblog
________________
(*) Trích từ thiệp mời của Văn phòng Cần Thơ, báo Sài Gòn Tiếp Thị
Mời đọc thêm:
Con đường đá đậu trong blog này.
Ảnh: Cẩm Nhung




Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2008

Hà Nội Hà Nội…

Huỳnh Kim

1.
Trao em những trái xoài cát Hòa Lộc cuối mùa vàng ươm nâng niu từ Cần Thơ ra Hà Nội. Giọng con gái Bắc có tiếng ve đong đưa trên vòm sấu xanh cong cái nắng đầu hè khô khát: “Ôi, anh…”.
Hơn hai mươi năm trở lại. Sắc áo lính ngày xưa của chàng trai phương Nam đã tan trong hồn cây cỏ thủ đô. Ngày ấy ta thèm xoài nhưng xoài chưa là hàng hóa Bắc - Nam. Mỗi Chủ nhật rời doanh trại Gia Lâm lang thang hồ Gươm, em dúi vào tay ta tấm phiếu ăn cơm “quốc doanh mậu dịch”. Giờ em thong thả chọn trái cây bốn mùa Nam - Bắc sau mỗi bận dan díu đãi đằng bạn bè từ xứ nào cơm lam, ốc Tây Hồ, chả cá Lã Vọng, ô mai…



2.
Hàng hóa tưng bừng tràn ngập phố phường. Hàng Tây, Tàu, ta… chộn rộn chen chân giảm giá. Tha hồ mặc cả. Dẫu khách không mua em vẫn nở nụ cười, vẫn kèo nài mời mọc. Hai bàn tay trân trọng nâng món hàng trao cho khách; khác hẳn ngày xưa ta chỉ nhận từ em… “chuyên trị” một bàn tay.

3.
Dưới những tòa cao ốc khách sạn, văn phòng liên doanh sang trọng, vẫn còn những tầng thấp xanh um cổ thụ và công viên. Thích nhất là ta đã lạc đường dăm bảy bận, trong những đêm lang thang cùng cây xanh.Và những mẹ nhà quê, thầm lặng sáng trưa chiều quảy những gánh hàng rong; nải chuối, mớ rau, chùm hoa, trái ổi…cũng lang thang khắp phố phường Hà Nội vòm xanh. Ta chép vào sổ tay: “Chợ đồng quê Hà Nội lang thang”.



4.
Em đưa ta đi thăm người bạn cũ còn tại ngũ. Bạn tặng “Thơ và tranh” vừa mới in xong. Rồi bày rượu đọc thơ, dẫn khách xem tranh cho tới nửa đêm. Bạn đã đeo quân hàm thượng tá, mái tóc đã muối tiêu. Bạn không còn sống ở Bắc Ninh. Trong những khu gia binh của Hà Nội mới tháng năm, có những người Hà Nội mới như anh. (Anh đã sống được bằng thơ và tranh; một đôi lần triển lãm, có những bức tranh hòa bình anh bán được vài trăm đô la Mỹ).

5.
Đêm đưa em về giữa lòng Hà Nội. Cố tình chạy lạc những con đường đã quen. Và nói lời chia tay bên hồ Gươm: “Phải chi em là người tôi yêu”.

_____

Ảnh: Phạm Đình Quát
Bài đăng lại từ Giai phẩm Xuân Mậu Tý của eChip


Thứ Hai, 14 tháng 1, 2008

Làng tế



Quê tôi nằm cách kinh thành Huế độ mười kilomet về phía bắc, là một làng thuần nông chuyên sống về lúa nước, có con sông Bồ ôm gọn cánh đồng làng, có lũy tre xanh lung linh đáy nước vào những đêm trăng. Tuy không giàu có, làng cũng được liệt vào hàng đủ ăn đủ mặc trong vùng. Để nhớ ơn tiền nhân khai lập đã bao đời nay, cứ mỗi năm hai lần (xuân thu nhị kỳ) vào lúc nông nhàn giữa vụ chiêm và đầu thu vụ trái là làng tổ chức lễ tế Thành Hoàng và các vị thần khác để dâng lễ vật cầu cho một vụ mùa tới đầy may mắn, dân chúng được sống an lành hạnh phúc.



Ngoài việc tâm linh, còn là khát vọng đời sống tinh thần và liên hoan ẩm thực toàn làng. Qua đó, người dân quê tôi luôn sống đoàn kết thương yêu nhau, cùng nhau chia sẻ vui buồn, nhọc nhằn trên đồng ruộng, trao đổi cho nhau kinh nghiệm mùa màng những mâu thuẫn trong đời sống hằng ngày được tháo gỡ và cơ hội cho nhiều mối tình quê thắm duyên tiến tới chuyện cau trầu. Tùy theo huê lợi thu được hàng năm của số ruộng chuyên dùng mà làng quy định số ngày cấm lửa bếp trong dân, thường từ ba đến bảy ngày, những diễn ra lễ tế không được ai nấu nướng bếp nhà, tất cả tập trung ăn uống ở đình làng, người già yếu không đi được có con cháu mang về.
Gần đến ngày đó, thôn xóm được dọn dẹp sạch sẽ, ngoài đồng mồ mả được dẫy chạp gọn gàng, quanh sân đình dựng nhiều rạp, kê nhiều bàn ghế, cổng làng và cổng đình đã kết dựng long môn bằng những thân cau kết tàu dừa cùng dây tơ hồng, cờ phướn tung bay rực rỡ, trong đình ba gian bài vị và hai hàng thập bát binh khí đã được sơn son thiếp vàng, chuông trống, bù rù, phèng la đã sửa giọng, trâu bò thịt cột đủ dưới các gốc sầu đông ngoài khuôn viên đình, hậu cần chuẩn bị xong là làng khai hội.
Bọn tôi còn nhỏ, chẳng được sắp đặt việc gì, đó là những ngày đầy kỷ niệm, vui còn hơn Tết, được nghỉ học (trường làng đã được trưng dụng), suốt ngày quanh quẩn bên lễ hội, hết xem tế lễ lại rủ nhau chơi các trò đánh bi, ném quay, đánh căng, ô quan, cướp cờ, ăn no nê rồi nhảy xuống sông chơi những trò chơi dưới nước như lặn bắt, ném bóng, thi vượt sông. Người lớn ngoài số chuyên trách lễ tế, còn lại thay phiên nhau làm xong công việc được cắt cử, sau đó tập trung đầu làng tham gia hoặc tổ chức chơi những trò chơi như : Bài chòi, bóng chuyền, ném bi sắt, cờ tướng. Tối đến họ đánh bài, xóc đĩa, tài xỉu, xì lát ăn tiền theo quy định của làng không mang tính sát phạt.
Sáng tinh mơ tôi thức dậy, không thấy mạ ở nhà, biết mạ đã đi tham gia nấu nướng phục vụ lễ tế, tung tăng chân sáo tôi ra đình làng, ở đó mọi người đang ăn sáng, trừ những vị cao tuổi và người có chức sắc, còn lại tự phục vụ, tôi sà vào cùng những đứa bạn đang sì sụp húp cháo nước xít, hương vị của loại cháo này có mùi thơm của nếp, bùi đậu xanh, béo ngậy của váng mỡ, ngọt của nước luộc thịt cùng tất cả thịt vụn thừa khi chế biến, cháo có màu mận nhạt bởi huyết ứ lấy ra từ ngực heo bò khi mổ, cháo đang nóng trước khi ăn cho một ít ngò gai và rau răm thái nhỏ sẽ dậy mùi rất thơm, đó là mùi đặc trưng của cháo nước xít. Đang đói mà ăn cháo này, húp đến đâu mát ruột gan đến đo, khỏe hẳn ra, đủ năng lượng cho tôi tha hồ nghịch ngợm.
Những ngày làng tổ chức lễ tế, hàng sáng điểm tâm xong chúng tôi thường rủ nhau lên đình xem các bậc cao niên tổ chức lễ tế. Nhìn vào đình tôi thấy ba gian điện thờ chưng đầy vật phẩm, đèn nến sáng trưng, khói nhang nghi ngút. Với đầu óc của đứa trẻ chưa đủ mười tuổi như tôi, thêm lời kể của bà nội và dặn dò của mạ và trước sự cung kính của những vị cao tuổi khiến tôi không đủ can đảm nhìn thẳng vào các bài vị, với tôi sau làng khói nhang đó là cả một thế giới tâm linh đầy huyền bí. Theo lời bà nội thì đình có ba gian thờ, giữa thờ Thành hoàng, hai bên là hai vị Khai Canh (canh tác), Khai Cơ (cơ nghiệp) phía sau là các vị hiển linh khác. Hai vị Khai Canh, Khai Cơ có miếu riêng nên mỗi lần lễ tế phải tổ chức lễ đưa rước.
Hôm nay, trước sân đình ban lễ tế đang khởi hành rước hai vị thần về. Dẫn đầu đoàn rước là vị chủ lễ dễ nhận biết qua trang phục truyền thống (áo dài, khăn đóng) màu đỏ cam có thêu chữ “Thọ” lớn giữa ngực, tiếp là các tộc trưởng trang phục như vị chủ lễ chỉ khác ở màu xanh biếc, theo sau là một chiếc kiệu có bốn người khiêng. Kiệu được làm bằng gỗ có màu sắc tao nhã không cầu kì, trên đặt một chiếc ghế như một chiếc ngai, trước ngai là một chiếc bàn nhỏ để đặt hương án và tế phẩm, kiệu được hai người cầm hai chiếc tán lớn màu vàng có tua ngũ sắc đi kèm hai bên che mưa nắng, tiếp theo là ban nhạc hiệu và đoàn người áo dài khăn đóng cầm cờ ngũ sắc trật tự đi hai hàng hộ tống. Cuối cùng là những bọn nhóc chúng tôi, hôm nay đứa nào cũng sạch sẽ, đi đứng trật tự có hàng lối không xô đẩy và ồn ào như mọi khi.
Đoàn rước đi đến miếu thì tiếng nhạc im. Chỉnh trang lại lễ phục, vị chủ lễ tiến lên trước miếu, các tộc trưởng tách hai hàng nghiêm trang đứng hai bên, kiệu được đưa gần sau lưng vị chủ lễ, nhạc hiệu nổi lên bốn người khiêng kiệu đồng loạt làm các động tác thuần thục “vai, eo, nài” đặt kiệu xuống đất. Khi hương đèn đã thắp lên thì vị chủ lễ sì sụp lạy, miệng lâm râm khấn vái nói lý do xin rước ngài về đình, tiếng bù rù rền như sấm nghe như từ dưới đất chui lên, là lúc vị chủ lễ cung kính bưng bài vị ngài đặt lên ngai và bát nhang đặt lên án hương trên kiệu, một hồi trống lệnh vang lên kiệu được đưa lên vai, đám rước lùi ra sân, vòng lại tiến thẳng về đình dưới sự điều khiển của ban nhạc lệnh, nghe quen từ xa dân làng cũng biết đám rước đang đưa hay tiễn căn cứ vào nhặt khoan của tiếng trống hay độ rền của tiếng bù rù.
Nhìn vẻ nghiêm trang của đoàn người đi rước, từng bước đi trịnh trọng và cẩn thận của những người khiêng, chắc kiệu nặng lắm! trong đầu tôi tưởng tượng có một vị thần to lớn, oai phong lẫm liệt đang ngồi trên đó, khiến tôi càng tin lời mạ dặn dò khi đi qua các miếu phải cung kính, cúi đầu đi nhanh, không được nhìn thẳng vào chính điện để tránh sự quở phạt của thần linh và còn bao nhiêu điều mạ dặn “không nên” đối với thế giới tâm linh mà mạ tưởng tượng ra. Tôi còn nhớ có một hôm đi ăn giỗ về chạng vạng tối, nghe tiếng chuông chùa đổ, mạ vội kéo tôi đi nép bên đường mặc kệ gai tre và cây xấu hổ dưới đôi chân trần. Mạ nói thời khắc đó các vị thần đang dẫn âm binh đi tuần.
Theo lễ rước về đình, bọn trẻ chúng tôi chờ xem luôn lễ khai mạc. Sau lễ là một bữa liên hoan đáp ứng lòng mong đợi của người nông dân sau bao ngày vất vả một nắng hai sương trên đồng ruộng. Tôi nghe người lớn ví von bữa liên hoan này đối với người nông dân như “đất khô vô phở” (nước vào ruộng hạn).
Ban tổ chức cắt cử chuẩn bị nhân lực từ mấy ngày trước, bắt đầu từ khuya sao cho đến gần trưa đã đâu vào đó. Trên các điện thờ vật phẩm đầy đủ, dưới nhà bếp xôi đã đựng đầy các thúng, thịt thái đầy các nong nia, các nồi quân dụng xương hầm, thịt xáo đã sôi rúc rích. Tiếng cười nói, tiếng va chạm vật dụng, mùi thơm của thức ăn lan tỏa cả góc làng.
Mặc dù phải thức thâu đêm làm việc, nhưng trên khuôn mặt của các chàng trai, cô gái làng không lộ vẻ gì mệt mỏi bởi qua ánh mắt lanh lẹ, nụ cười duyên dáng của họ khi trò chuyện. Chắc đây là cơ hội để họ chứng tỏ mình, các cô trổ hết tài nấu nướng, các chàng ra sức tháo vát. Lúc này tôi mới hiểu câu tục ngữ mà bà tôi thường khuyên bảo các cô, chú tôi khi chọn vợ, chồng: “Trai khôn tìm vợ chợ đông/ Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”.
Trên đình vị chủ lễ rà soát lại vật phẩm. Các tộc trưởng và bô lão trong làng đã tề tựu đầy đủ đứng vào hàng ngũ theo từng họ tộc của mình từ cao xuống thấp, kéo dài từ điện ra cuối sân cách nhau một tầm lạy. Tiếng trống, tiếng chiêng nhẹ nhàng vang khẽ rồi rõ dần, dẫn nhịp đi vào lễ tế.
Vị chủ lễ đốt nhang xong quỳ xuống lạy dâng sớ (đại ý báo cáo thành quả mùa màng trong mùa qua và xin ban cho dân làng gặp may mắn, an lành, hạnh phúc). Mỗi khi chuyển sang một điều xin, một khoản việc thì chủ lễ lạy một lạy, theo tiếng trống mọi người vừa lạy theo và cùng tung hô “Hơn bái” vang dội cả một góc làng kết hợp với tiếng bù rù Ù Ù tạo ra một không khí vô cùng trang nghiêm và huyền hoặc.
Ấn tượng nhất là lễ tế Mao Huyết. Lúc này cạnh sân đình, nơi một sân đất nằm dưới hàng sứ già đang nở bông trắng rực, bốn lực điền dẫn vào một con trâu tơ được ăn no, tắm sạch. Bằng những động tác thuần thục họ đã quật ngã, mổ lấy huyết từ ngực và lông ở đầu đựng vào chiếc khay chuyên dùng, trao cho một người mặc lễ phục đang chờ sẵn. Người này đội chiếc khay trên đầu đi lên điện tế đứng vào vị trí ấn định.
Một hồi trống và bù rù vang lên, cả sân đình im phắc. Người đội tế phẩm quỳ xuống. Tiếng vị chủ lễ xướng lên “Mao huyết tế” vừa dõng dạc, vừa nghiêm trang, kéo dài như tiếng hát. Nghe một tiếng trống, tất cả những người tham gia đồng loạt nhái to theo vị chủ lễ, cứ như vậy lặp lại ba lần, âm thanh theo gió lan trên mặt sông vang to cả một vùng rộng lớn.
Nhắc đến chuyện làng tế ở quê tôi là khơi dậy cả một rừng kỷ niệm đầy cảm xúc. Tùy theo thời điểm và hòan cảnh mà người làng tôi lưu giữ những mảng hồi ức khác nhau, từ chuyện hẹn hò của những cặp vợ chồng đã nên đôi lứa trong mùa lễ hội cho đến những chuyện cười ra nước mắt
Như chuyện chú T muốn có tiền chơi bài phải dùng kế làm tê liệt ý chí vợ. Đang xung trận chú bỏ ra ngoài. Chờ lâu quá thím T đi tìm, ra vườn thấy chiếc quần của mình bị máng ở gốc mít mà tiền mất hết biết mình bị mắc mưu, thím chạy ra làng túm cổ chồng kể tội trước mặt mọi người làm mọi người được một trận cười bò...
Rồi chuyện O T đi tìm con chơi trong lễ hội, trời tối sợ ma, mặc dầu trong tay đã cầm cây đèn bão, để an toàn hơn o T đã nghĩ ra một cách trị ma độc đáo là tuột quần xuống. Khi gặp người đi ngược chiều dừng lại hỏi thăm, o quên kéo quần lên. Mọi người hỏi, o thật thà nói: “Cái ni con chi … cũng sợ chứ đừng nói ma”. Chuyện đã làm cho mọi người vừa dị vừa cười đến xỉu luôn.
Những năm đình làng tôi bị trưng dụng làm kho thóc hợp tác xã, ruộng tế của làng sung công, do không quen phương thức sản xuất mới nên dân quê tôi đói lắm, thanh niên quê tôi ao ước một bữa ăn làng tế, lúc đó ký ức hiện về, cả đám thiếu niên chúng tôi ngồi quây quần bên những chiếc mâm đầy xôi thịt, vị ngọt của thịt, bùi của xôi, những trò chơi nghịch ngợm thuở nhỏ. Những kỉ niệm đó đã theo tôi suốt cuộc đời đầy phong trần, rong ruổi khắp mọi miền đất nước. Tuyệt nhiên tôi không tìm lại được ở đâu hương vị của ngày xưa.

______

Ảnh: Lương Quang Tuấn



Thứ Tư, 28 tháng 11, 2007

Tửng tửng Quảng gặp tửng tửng Huế


Trần Kiêm Đoàn


Huế là kinh đô của vương triều nhà Nguyễn, nên Huế phải khác thường. Tâm lý "Đế đô" là tâm lý sang cả, đài các. Ăn thì phải ăn nhiều món, chuẩn bị cầu kỳ -- Dẫu là muối bảy món -- Mặc thì phải áo dài lượt là lượt khi ra đường; dẫu là gánh chè bán dạo, áo vá bạc màu. Nói thì phải nói cho sang, chữ nghĩa thưa bẩm đúng trật tự, không cong đuôi cụt đầu, dẫu có mắng nhiếc ai nặng lời thì cũng phải có vần có điệu phù hợp với bài bản.

Cách biểu hiện tình cảm cũng phải đượm mầu quý phái. Có nghịch ngợm thì cũng phải chòng ghẹo "rím rím". Nghĩa là phải kín đáo, dẫu "có hoang chẳng giống người thường". Không nói toạc móng heo những ý tưởng riêng tư thầm kín mà nói ra nửa kín nửa hở. Khi cái trạng thái hư hư, thự thực, nói năng bóng bẩy, lời lẽ bốn phương, hiểu phương nào cũng đúng nầy mà đạt đến trạng thái thăng hoa nghệ thuật thì sẽ trở thành cái "tửng tửng" điển hình của Huế. Đây là cách kiểu nói ra hay biểu hiện thái độ một cách tự nhiên và tỉnh táo như đùa như thật; như nghiêm như trêu; như theo như chống...

Trong thơ ca, nhất là thi văn xướng họa thì sự trêu ghẹo nhau bằng chữ nghĩa thường trở thành những màn chơi chữ đầy nghệ thuật thú vị. Kiểu nói tửng tửng nầy thật không ngờ lại chưa hẳn là sở trường của Huế. Một người bạn Huế, phóng một câu tuyệt tác tửng tửng đến nước nầy thì con dân văn bút nhà Huế chỉ còn nước sắp hàng một vỗ tay hoan hô:

Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương

Dạ thưa, đó là Bùi Giáng, anh học trò trong Quảng ra thi của một thời Quốc Học...
Mới nghe qua hai câu thơ đệ nhất tửng tửng nầy đã có người lên tiếng:
- Nói chi lạ rứa hè! Sông Hương núi Ngự thì muôn năm vẫn là sông núi cũ chứ có bò đi mô mà phải tìm kiếm! Nói theo kiểu ni thì có khác chi nói lại rằng:

Dạ thưa cái cổ đã lâu
Vẫn còn dính với cái đầu, hai vai

Có những chân lý thị hiện hằng ngày đâu cần tìm kiếm. Nhưng sự nghịch lý của đời nầy là càng hiện rõ chừng nào, càng khó thấy chừng đó. Như lý thuyết nhà Phật thường nhấn mạnh chân tâm Phật tánh ở ngay trong mỗi con người, nhưng có được bao nhiêu người tìm ra được. Sông Hương Núi Ngự đi qua ngày hai buổi nhưng mấy người chịu lắng lòng để nghe câu chuyện dâu bể của dòng sông; mấy người nghiêng mình vào cõi vô trú để nhìn ra dáng vẻ đầy uy vũ muôn trùng của ngọn núi.

Cái nhìn của Hàn Mặc Tử là cái nhìn quá tĩnh lặng và xuyên suốt bản chất mới thấy được "Nắng hàng cau" nơi thôn Vỹ Dạ. Cái nhìn của Bùi Giáng là cái nhìn bão nổi trong cảm xúc và uyên thông trong trí tuệ mới thấy được trái tim của Huế. Bao nhiêu thế hệ đã đi qua. bao nhiêu nguy biến đã dập vùi mà "Vẫn Còn". Căn tính chưa lụi tàn, thể tính chưa phôi pha nên vẫn còn, vẫn còn và vẫn còn... Vẫn còn Núi Ngự bên dòng sông Hương. Huế vẫn còn là Huế.

Một thời, có ai nói đến thơ xưa, thơ mới, thơ siêu thực, thơ tượng trưng, thơ nguyên tử... tôi lại lan man nghĩ đến Bùi Giáng với Mưa Nguồn và những bài thơ đăng rải tác đâu đó trên các sách báo miền Nam thời đi học. Có lẽ tại tôi mê chuyện kiếm hiệp nên thích những mẫu người kỳ lạ hơn là nghiêm túc nghĩ đến văn chương.

Điều tôi thích nhất ở Bùi Giáng không phải là những vòng hào quang cũng như gai góc mà người đời đã không ngớt mang tặng cho ông. Tôi thích nhất ở Bùi Giáng là thái độ rong chơi của ông trong thi ca tư tưởng. Ông nói chuyện triết học cao siêu dễ dàng và cà rỡn như nói chuyện Tấm Cám và nói chuyện Tấm Cám xa vời như tư tưởng của Kant, Nietzsche, Heidegger. Đọc sách của ông rất khó phân biệt được biên giới giữa thi ca và triết học. Ông bàn về chuyện triết học như làm thơ và làm thơ như chuyện đùa giỡn. Bùi Giáng là người làm xiếc trong ngôn ngữ với một “bút-pháp-không-bút pháp”. Thơ ông đầy những từ đẹp như hoa gấm, những câu tuyệt bút, nhưng cũng không thiếu những chữ đệm “tầm ruồng” (chữ của chính Bùi Giáng), những câu khó hiểu, những ý mờ mờ nhân ảnh, nên rất dễ làm hoa mắt những đầu óc quá thông thái mà thiếu cái Tâm thoáng đạt, hồn nhiên, chất phác; thậm chí... quê mùa!

Khái niệm cổ điển lập ngôn, lập thuyết hay “văn dĩ tải đạo” trong sáng tạo văn chương có vẻ không hợp như những chiếc áo thụng xanh đỏ rộng thùng thình trên tấm thân gầy guộc của Bùi Giáng. Ông đã bứt phá những vòng trói buộc nghìn năm của những thước đo, những “râu mép” (Road Map) làm khuôn vàng thước ngọc cho đường bay sáng tác thi ca: “Thơ tôi làm... là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào trung tâm bão giông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thóat ra phá vòng vây...”

Bởi vậy, trong Thi Ca Tư Tưởng ông đã “báo động” cho các bậc học giả và giả học rằng:
Thơ tôi làm ra là để tặng chuồn chuồn châu chấu, xin các ngài học giả hãy xa lánh thơ tôi.

Trong suốt nửa chiều dài của thế kỷ nầy, cả trong nước lẫn ngoài nước, đã có quá nhiều bài viết về Bùi Giáng. Hay ho cũng lắm mà tào-lao-luận ba hoa chích chòe cũng nhiều. Dường như ai cũng cố vẽ ra một Bùi Giáng, muốn biết một Bùi Giáng thật sự, nhưng hầu như tất cả các cây bút đều ngại ngùng, lúng túng trước một khối lượng tác phẩm “khó tiêu hóa” quá lớn và một bút pháp lắt léo, quanh co, bay lượn của một “tay phù thủy ngôn ngữ” như ông. Thế nhưng, sau những trận mưa tắm gội ngôn ngữ của người đời dành cho Bùi Giáng, người ta đành chào thua trong cố gắng nhằm phân tích “phức liệu Bùi Giáng” để trả Bùi Giáng về lại Mưa Nguồn của chính ông. Khổ nổi là chưa bao giờ thấy Bùi Giáng lên tiếng phân bua hay cãi chính về những khen chê của người khác dành cho mình. Và càng im lặng, ông càng nổi tiếng. Xung quanh Bùi Giáng nổi lên quá nhiều giai thoại. Những giai thoại cứ xoắn riết ông từ lớp nầy đến lớp nọ; trong khi Bùi Giáng vẫn tiếp tục sống lang thang lây lất, ăn bụi, ngủ hè, bị gậy, áo rách quần xài, khi ẳm chó, khi ôm mèo, đánh bạn với thú vật, muông cầm, cây cỏ, loanh quanh các nẽo đường gió bụi Sài gòn.

Có thể nói Bùi Giáng là một hiện tuợng thi ca, văn học lạ lùng nhất của Việt Nam thời cận đại. Lạ lùng như một dấu hỏi - vẫn còn mãi là một dấu hỏi nơi ông:

Hỏi tên rằng biển xanh dâu
Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa
Gọi tên rằng một hai ba
Đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm

Bùi Giáng đã trải qua một cuộc rong chơi tận tình, chất ngất trong tư tưởng và giữa cuộc đời. Ông sinh năm 1925 tại Quế Sơn, Quảng Nam, đã từng đặt cho mình nhiều bút hiêu khác nhau: Báng Giùi, Bùi Báng Giúi, Búi Bàng Giùi, Vân Mồng, Trung Niên Bùi Thi Sĩ, Thi Sĩ Đười Ươi, Bùi Brigitte...

Bùi Giáng học trường Quốc Học Huế và đột nhiên bỏ học vì lý do, theo lời ông trong tác phẩm Đi Vào Cõi Thơ, là bị “chấn động dị thường” bởi vì tập thơ Lửa Thiêng của Huy Cận. Ông bỏ học về quê chăn dê và đọc sách. Từ đó, ông trở thành một học giả uyên bác hầu như “vô sư tự ngộ”, tự đọc sách , tự học hỏi mà khai phá trí tuệ giống như thiền sư Huyền Giác ngày xưa đọc kinh Duy Ma Cật mà “phát sinh tâm địa”. Đây cũng là khởi điểm cho Bùi Giáng suốt đời âm thầm đi trên con đường tư tưởng đôc đáo và riêng biệt của mình.

Tập thơ đầu tay của Bùi Giáng là tập Mưa Nguồn xuất bản tại Sài gòn năm 1962 và tập thơ cuối cùng là tập Đêm Ngắm Trăng xuất bản năm 1997. Trong cuộc hành trình 35 năm đó, Bùi Giáng đã càng ngày càng chứng tỏ ông là một người nghệ sĩ với dáng dấp tàng tàng, lọt tọt (chữ của Nguyễn Hàn Thư) đi rong chơi khắp muôn vạn nẽo trong cõi thơ.

Thơ của Bùi Giáng thường không dễ hiểu, nhưng rất dễ ngấm mà những đầu óc "ngầu" chữ nghĩa thích gọi là “trực cảm nguyên ngôn” hay gì gì đó... Thử đọc và “ngấm” một khúc “Ly Tao” của ông:

Giờ ngẫu nhĩ như hồng bay em ạ
Và yêu thương như lá ở bên hoa
Và luyến ái như tơ vàng bốn ngã
Bủa vi vu như thoáng mộng la đà

Lần đi từ điểm khởi phát của Mưa Nguồn và của Ly Tao là một gã trai quê chăn bò trên vùng quê hẻo lánh xứ Quảng. Thuở đó, tâm hồn Bùi Giáng đầy cây lá và những cảm xúc nhân ái, chân thành. Tâm thức ông tan loãng, hòa nhập với thiên nhiên cỏ nội hoa đồng:

Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín
Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh
Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa
Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh
Chìm ngây ngất vào trong đôi mắt lã
Anh lim dim cho chết lịm hồn mình
(Anh lùa bò... Mưa Nguồn, tr153)

Và có chăng tình yêu ngày đó với cô gái quê bên bờ cỏ mượt thì cũng chỉ là những xao xuyến buổi đầu đời. Rồi tình yêu đó cũng chỉ là những cảm xúc rất vi vu và hư ảo, không đậu lại trên một thân xác nào có thật màrong chơi theo ông, rồi “tan đi trong hố thẳm chôn vùi”:

Nhìn em nhé bên kia bờ gió thổi
Lá xanh vườn theo cỏ mượt ngân nga
Tơ vi vút một đời thương nhớ tuổi
Của trăng rằm xuống dọ dẫm bên hoa
Khung cảnh ấy nằm sâu trong đáy mắt
Có lệ buồn khóc với lệ hòa vui
Để tràn ngập hương mùa lên ngan ngát
Rồi tan đi trong hố thẳm chôn vùi
(Bờ nước cũ. MN, tr 49)

Hình như giữa cuộc rong chơi, Bùi tiên sinh có lúc dừng lại để ngắm cái đẹp, chiêm nghiệm cái đẹp, cảm thụ cái đẹp một cách rất chi là não nùng trang trọng:

Anh quỳ xuống giơ hai tay bệ vệ
Chỉ xin nâng một giọt lệ êm đềm
(Tự hỏi vì sao)

Em đi đắm đuối tấm lòng
Có bao giờ biết người trăm năm buồn
(Tỉnh mê)

Anh sẽ khóc suốt thiên thu tình lụy
Của vấn vương tình nghĩa nặng muôn nghìn
(Vì có lẽ)

Tuổi thơ em có buồn nhiều
Hãy xin cứ để bóng chiều bay qua
Mưa có lạnh nhưng chân trời còn mãi
Những giọt suơng là lệ ở trong mây
Giòng sông đi cho nước nói ngàn ngày
Bằng biển rộng không bến bờ em ạ

Rồi Bùi Giáng tiếp nối cuộc rong chơi. Trái tim ông cũng rất “lăng loàn” khởi phát từ bản chất đa tình nghệ sĩ. Đa tình nhưng lại không đa lụy vì ông vẫn mãi sống một cuộc đời độc thân rong ruổi. Nhưng ông vẫn sống miên man trong cái đẹp thác ngàn của Thúy Kiều, của Kim Cương, của Marilyn Monroe, của Brigitte Bardot, của cô Mọi Nhỏ bên rừng Phi Châu... Nàng thơ, nàng Ly Tao trong thơ Bùi Giáng thường có một vẻ rờn rợn liêu trai, toàn là cõi mộng, cõi tưởng, cõi vi vu đầy mê hoặc:

Em đã lại với đời về nắng ấm
Thắm không gian thương nhớ bóng hình em
Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm
Ngày đi không để lại lạnh trăng rằm

Em có nụ cười buồn buồn môi mọng
Em có làn mi khép lá cây rung
Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng
Hồ gương ơi! Sao sóng lục vô chừng

Em ở lại với đời ta em nhé
Em đừng đi. Cho ta nắm tay em
Ta muốn nói bằng thơ bay nhẹ nhẹ
Vào trong mơ em mộng giấc êm đềm

Từ tập thơ đầu, Mưa Nguồn, đến những tập thơ sau như Lá Hoa Cồn, Mùa Thu Thi Ca, Ngày Tháng Ngao Du, Sương Bình Nguyên, Trăng Châu Thổ... là cả một đoạn đường dài rong chơi, đùa cợt, cù cưa bất tận của Bùi Giáng với ngôn ngữ thi ca. Đến Đêm Ngắm Trăng với 227 bài thơ, phần lớn là lục bát, sau cùng trong cuộc rong chơi của Bùi Giáng thì rõ ràng Lão Thi Sĩ đang “nói lục bát” một cách tự nhiên, dễ dàng, khề khà, “tồn hoạt chịu chơi” như những ông già đang ngồi vuốt râu nhâm nhi vài xị đế. Ông nói về “dzách” (thùng cù lũ?):

Nỗi buồn nỗi khổ đời xưa
Nỗi sung sướng đến móc mưa bất ngờ
Đời xưa đất đá cằn khô
Đời này đất đá đều đờ đẫn điên

Điên duỗi dọc, điên ngửa nghiêng
Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời
Điên rồi rốt cuộc hỡi ôi
Cũng đành chấm dứt lìa đời hết điên
(Dzách. Đêm Ngắm Trăng, tr139)

Càng điên điên ông càng “chịu chơi” tới cái mức “thần thông du hí”. Đã có hơn một đầu óc uyên bác đem cái lý thuyết biểu tượng, tinh thể và phá chấp ra để xào nấu những vần thơ sau đây. Nhưng riêng tôi thì lý thuyết nào cũng không thể áp dụng vừa vặn vào đây bằng lý thuyết “chịu chơi!”:

Ông gieo vần điệu dã man
Tờ điên hoa giậy lang thang lên mùa
Ông buồn- quýt ngọt chanh chua?
Còn cam còn bưởi còn xoài riêng đâu?

Ông tìm kiếm suốt hương màu
Thời gian tinh thể đi đâu mất rồi
Ông ngồi suốt những canh thâu
Nêu từng nghi vấn trình tâu với người

Nguời từ vô tận chịu chơi
Thần thông du hý chốn nơi nào là
(Con vui vô tận. ĐNT, tr 145)

Thật ra thì ngay giữa cuộc hồng trần nầy, Bùi Giáng sống cùng tận trong cái mơ mơ, màng màng thuần lý mang tính “đồng nam hiển thánh” (chữ của ĐS); nhưng chưa đến mức dám bức phá những hàng rào trói buộc hay những quy ước rất thường tình của con người trong cái hệ lụy nhân sinh:

Anh uống rượu tới mê man khôn dọ
Duỗi tay chân tại tâm điểm bụi đời
Chiêm bao về ứng mộng giữa tuyệt vời
Quần phong nhụy bất thình lình giũ trút

Ôi mật ngọt ôi thiên đường bất chợt
Hiện huy hoàng hiện thể suốt tâm linh
Anh chào em từ ảo mộng một mình
Và dám chắc nhận nhìn rằng: anh hổng dám

...Anh bình tĩnh thưa rằng: anh hổng dám!
Hổng dám đâu! Đâu hổng dám là đâu...
(Hổng dám đâu. ĐNT, tr 149)

Càng đọc thơ Bùi Giáng, tôi càng cảm thấy muốn khóc khi ông cười; và muốn ôm bụng cười khi ông khóc... có lẽ vì tôi chưa có một tí ti “chất nghệ sĩ Bùi Giáng” nào trong mình. Đọc bài thơ tự trào hết sức độc đáo và lạ lẫm của ông, tôi cứ ước chi mình có được một phần trăm cái “điên”và một phần mười cái “ngu sy” của Bùi Giáng để có thể có chút nào đồng cảm với ông chăng:

Cuộc đời tẻ nhạt hôm qua
Tới hôm nay nữa gọi là hôm mai
Ba hôm cả thảy than dài
Thấy thằng bùi giáng đêm ngày ngu sy

Tháng tròn năm méo tý ty
Tồn sinh lả tả từ ly cuộc đời
Nó về tồn hoạt chịu chơi
Nó đi suốt cõi chơi vơi hồng trần

Nó từ vô tận mông lung
Nó đi suốt kiếp trùng phùng thiên thai
Giữa đêm thở vắn than dài
Khóc hu hu nó khóc hoài trăm năm
(Hôm Hôm. ĐNT, tr 150)

Đến đây tưởng cũng nên làm sáng tỏ tại sao sẽ có rất nhiều người mơ ước có được một phần cái “ngu sy” của Bùi Giáng. Tôi xin được liệt kê lại một phần cuộc rong chơi của Bùi Giáng qua những tác phẩm đã được xuất bản của ông. Ngoài ra, tôi cũng như nhiều người có thể tin; mà cũng có thể không tin, những điều do người khác đã viết trên giấy trắng mực đen rằng, Bùi Giáng đã từng viết ra cả ngàn câu thơ trong một đêm...

Sự rong chơi của Bùi Giáng trong ngôn ngữ và giữa cuộc đời vừa thâm trầm, vừa vui nhộn, vừa “bi... khoái” là vì ông không dè dặt, giữ gìn mà cố tình buông thả đi về lẫn lộn giữa những câu thơ khóc cười đầy uyên bác, trang đài, cổ kính xen với những từ, những câu đầy ngôn từ dân giã, bụi đời có khi đến mức giang hồ ngỗ ngáo, trần trụi. Vừa nói đến tâm sự mình một cách quý phái:

Hồn du mục cỏ hoa mòn mõi
Rừng đêm xanh trăng tạ không lời
Vì hơi thở cũng sầu như lá úa
Rớt lưng đèo bối rối lách theo lau

... ông “chuyển hệ” mượn lời người khác nói về cái điên của mình một cách thống khoái đầy “sáu Giáng”:

Vợ chồng tôi lúc nào cũng nhớ anh
Anh điên mà dzui – dzẻ thập thành
Chúng tôi tỉnh táo mà đành buồn hiu

Sự đùa bỡn với ngôn ngữ thi ca bằng cách sử dụng kiểu nói lái tinh quái của quê hương ông nhiều khi thô thiển một cách cụ thể chứ không bóng bẩy kiểu Hồ Xuân Hương. Người đọc rất thường gặp trong sách ông những cụm từ như: tồn lưu, tồn liên, liên tồn, lưu tồn, tồn lí tí ngọ, tồn lập tập trung, tồn lập tập họp... để đùa nghịch với triết học, nghịch với thi ca, nghịch với cuộc đời và nghịch ngay với chính bản thân ông:

Lọt cồn trận gió đi hoang
Tồn liên ở lại xin làn dồn ra...
(Mưa Nguồn)

Thời kỳ ông được coi là điên nặng nhất với lối sống kỳ dị thì cũng là lúc ông bơi trong “đại dương thi ca” để cho ra đời tập thơ Bài Ca Quần Đảo. Bùi Giáng làm thơ dễ dàng đến độ nhà văn Huỳnh Ngọc Chiến phải kêu lên rằng, “Đôi lúc chúng tôi có cảm tưởng rằng ông có thể đọc ngẫu hứng thơ lục bát từ sáng đến chiều mà không vấp... Ông làm thơ bằng tiếng Việt, tiếng Hán, thỉnh thoảng bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Ngôn ngữ đã nhập điệu trong ông như cây đàn trong tay người nghệ sĩ kiệt xuất. Chỉ ấn tay là thành giai điệu. Tự nhiên như nước chảy, mây bay mà chẳng có chút dụng công nào. (Thời Văn 19, tr 66)

Cuối cùng của cuộc rong chơi, Bùi Giáng đã lặng lẽ bỏ mùa xuân của trần gian đi về cõi miên trường phía sau:

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau

...và bỏ tất cả lại cho đời:
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngữa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con

Một buổi tối thứ Tư trên xứ Mỹ, tôi đang ngon trớn rong chơi với vườn thơ “tập cười” qua câu chuyện sinh điếu của cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy thì nhận được I-meo của Tà Thư báo tin Bùi Giáng vừa qua đời chiều hôm qua (7-10-98) tại Việt Nam. Tôi bỗng chững lại, quên hết chuyện cười, nhìn xuống thật buồn và cảm thấy một thoáng trống vắng. Những mệ, những ôn, những hoàng thân, tôn nữ một thời của Huế lần lượt vắng bóng, mang theo cái "tửng tửng" truyền đời như tiếng chèo đập nước trên sông lụi tàn sau tiếng máy dầu xình xịch.

Và, con mắt trần gian cuối cùng đó giờ cũng đã vĩnh viễn khép lại.

Sáng hôm sau, tôi bâng khuâng kêu một người bạn thân báo tin Bùi Giàng đã ra đi và tự nhiên đọc cho người bạn đó nghe hai câu thơ của Bùi Giáng đã làm tôi xúc động miên man trong những tháng ngày viết lách đùa nghịch với bạn bè:

Ta cứ ngỡ đùa vui trong chốc lát
Nào ngờ đâu đùa mãi đến điêu linh

Phía bên kia đầu dây, người bạn cũng lặng im đến nỗi tôi nghe cả tiếng sôi mơ hồ trong đường dây điện thoại. Trong một thoáng phù du đó, tôi biết là người bạn cũng đang rơm rớm nước mắt như tôi. Trên quê hương yêu dấu cái tửng tửng của Quảng đã gặp cái tửng tửng của Huế. Nơi quê người, nếu không không có cái tửng tửng mang theo, tiếng nói yêu thương của ngày xưa quê mẹ cũng sẽ chìm dần trong cổ tích.

TKĐ
________________________________________

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2007

MẸ TÔI


Mai Lĩnh

Người thầy đầu tiên, người đã giáo dục tôi làm người là một phụ nữ mù chữ. Đó là mẹ tôi. Càng lớn khôn, từng trải, tôi càng nghiệm ra mẹ là người-thầy-suốt-đời của tôi. Ơn sinh thành tựa trời biển, ơn dưỡng dục càng lớn lao vô vàn.

Mẹ tôi sinh ra trong một gia đình nông dân ở vùng quê nghèo ven sông Hồng, bên bờ Hát Giang - một con sông chỉ còn lưu lại tên tuổi trong sách vở - đã bao đời sống nhờ lúa, ngô, khoai. Mẹ tôi không được học hành, không biết lấy một chữ trong quyển Tam tự kinh, không ráp được vần với những con chữ A, B, C… trong sách quốc ngữ; mẹ tôi chỉ được học làm người bằng lời dạy của cha ông và tiếp thu kiến thức qua những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong kho tàng văn học dân gian. Thế thôi.

Vậy mà cuộc sống lặng lẽ, giản dị của bà lại thể hiện bao điều mà tôi đã mất thì giờ tìm tòi, nghiền ngẫm những điều tưởng như cao siêu trong sách vở.

Không một lời răn nào cho con cái về nền nếp, gia phong, không một lời khuyên các con về ý thức trong quan hệ gia đình và xã hội, nhưng cách sống của mẹ tôi đã giúp con cái hấp thụ những bài học từ tấm gương của bà. Một tấm gương về đức "nhẫn" và hạnh “trên kính, dưới nhường”.

o0o

Những thành tựu khoa học, kỹ thuật luôn hứa hẹn đem lại cho loài người một cuộc sống văn minh, một xã hội công bằng. Lao đầu vào học tập để mong có một cuộc sống khá hơn về nhiều mặt so với thế hệ cha ông là điều biết bao thanh niên hằng mong, ấp ủ. Rồi lại lao vào đời với những tính toán khôn ngoan để giành phần thắng trong cuộc sống, hầu mong đạt sở nguyện hay lấp đầy tham vọng. Đến một lúc nào đó, bỗng dưng người ta thấy hụt hẫng khi nhìn lại mình.

Mỗi lần như thế, tôi lại chợt nhớ đến hình ảnh người mẹ suốt đời lặng lẽ sống, lặng lẽ hy sinh. Hy sinh cho gia đình, cho chồng, cho con dường như là lẽ sống, là cách để bà vượt lên trên những hỷ nộ ái ố trong cuộc nhân sinh. Hy sinh - đó là từ tôi nói về mẹ - nhưng tôi chắc một điều là chính bà không hề nghĩ đến chuyện hy sinh mà coi đó như một lẽ thường, cái lẽ sống không cần phân tích, lý giải; và biết đâu, bà đã tìm thấy hạnh phúc của người “tri túc”. Điều này thật không dễ nhận ra.

Mẹ tôi đã sống giản dị đến mức tẻ nhạt, nhưng tôi đồ rằng không dễ dàng để có thể sống như thế. Phải chăng, văn hóa nông thôn Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX - mà ngày nay chúng ta thường nhìn về thời ấy với vẻ thương hại, tội nghiệp cho sự lạc hậu của xã hội ngày ấy - đã tạo ra cái hạnh sống giản dị như mẹ tôi? Có thể bà đã không thể sống giản dị như thế nếu được học hành và đọc được những tư tưởng, học thuyết trong sách từ Khổng, Lão... đến Marx, Engels hay Sartre, Heghen, Krisnamurti, Hermann Hesse v.v...

Mọi thứ triết lý ấy chỉ có tác dụng để cho con người cãi nhau suốt đời, chẳng ai chịu ai... để thỏa mãn cái sân si "chỉ mình tôi đúng" của con người. Chưa kể chuyện người ta nhân danh "triết lý", "chủ nghĩa" này nọ để xúi đồng loại giết nhau vì không chịu quy phục.

Cập tuổi lục tuần, mồ côi mẹ gần 30 năm rồi, tôi như vẫn bơi giữa biển u mê về cái lẽ sống đơn giản của mẹ tôi. Thêm một mùa xuân, lại thêm một tuổi, tôi viết những dòng này như một nén hương tưởng nhớ mẹ với sự hổ thẹn của một người con - vẫn tưởng là mình may mắn hơn mẹ - vì từng được cắp sách đến trường.

(Nha Trang - Xuân Ất Dậu)

________

Ảnh: Phạm Đình Quát

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2007

SIM LO BÌNH BÁT


CÚC TẦN

Thị trấn nhỏ Cầu Kè (Trà Vinh) quê tôi là nơi cộng cư của 3 dân tộc anh em: Kinh, Hoa và Khmer. Có lẽ nhờ thế mà những món ăn đậm đà bản sắc văn hóa của từng dân tộc đã trở thành món ăn “ruột” của tôi từ thuở ấu thời, trong đó có sim lo.

Một tô "sim lo"

Nếu như sim lo của người Kinh được hình thành bằng bắp chuối xắt nhỏ nấu với đầu hoặc xương cá khô, thêm chút mắm, bỏ gia vị, rau om và nhiều ớt thì sim lo của người Khmer được chế biến khá phong phú. Dù nấu với thực phẩm thực vật nào, sim lo của người Khmer quê tôi cũng đều lấy mắm prohok làm chuẩn. Có thể nói, mắm prohok quê tôi ngon hơn mắm prohok ở các địa phương khác. Trong khi đồng bào dân tộc Khmer An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau sử dụng mắm prohok làm bằng cá đồng thì người Khmer quê tôi lại làm mắm prohok bằng cá biển. Vị cá biển và công thức ủ gia truyền, vệ sinh đã khiến prohok quê tôi có vị mặn ngọt ngon không nơi nào có được. Mắm được nấu cho nhừ, lược bỏ xương, sau đó mới cho vài cọng sả đập dập, rau, cá lóc hoặc tép bóc vỏ vào. Nấu với bầu, bạn sẽ có món sim lo bầu vừa ngọt vừa mát miệng rất dễ ăn. Mùi thơm và vị mặn của mắm thấm vào từng miếng bầu mềm mụp, vào từng thớ cá, con tép, ăn quên thôi.

Lá "ưng à co" (mỏ quạ)

Nhưng món sim lo làm hơi công phu là khi nấu với bình bát. Bình bát là loại dây leo mọc hoang, lá hình ba góc bầu màu xanh đậm (trái giống như dưa chuột, nhỏ cỡ ngón tay út). Cùng với bình bát còn có măng xắt lát mỏng và nấm rơm. Nếu thêm vài bông và đọt “ưng à co” (mỏ quạ - một loại dây leo), hương vị sẽ tuyệt vời hơn. Tất nhiên không thể thiếu cá lóc hoặc tép bóc vỏ. Ngồi trước tô canh bốc hơi nghi ngút, tỏa mùi thơm “nức mũi”, giằm trái ớt hiểm, bạn sẽ “tiết tâm linh” ngay. Gắp một đũa vừa lá bình bát, vừa măng, vừa nấm rơm,vừa lá và bông “ưng à co” có lẫn miếng thịt cá lóc cho vào miệng. Chầm chậm nhai, bạn sẽ nghe chất ngọt mặn và mùi thơm của mắm, vị cay ấm của sả, vị cay nồng của ớt làm ngất ngây khứu giác và vị giác. Chan miếng canh vào chén, lùa miếng cơm vào miệng, nhai, vị ngọt của tinh bột làm đê mê đầu lưỡi. Món này ăn vào ngày nắng nóng sẽ khiến lỗ chân lông bạn túa mồ hôi, còn ăn vào ngày mưa lạnh thì giúp cơ thể bạn ấm lên một cách thú vị.

Về đây, bạn sẽ được thưởng thức đặc sản “nhớ đời” này với cơm hoặc với bún cùng một ít rượu nếp rặt đục ngầu bảo đảm say không xỉn.


Ảnh: Metinfo