Hiển thị các bài đăng có nhãn Ký sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ký sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2008

LÀNG NGHỀ VÀO XUÂN

* Phù Sa Lộc

Vợ chồng anh Hiển từ Australia đưa con gái và con rể lần đầu tiên về Việt Nam ăn Tết. Ghé nhà tôi, anh chị trang trọng mở bọc giấy khoe. Cứ tưởng vật gì, té ra là chiếc muỗng cà phê được chế tác bằng gỗ dừa. Cầm chiếc muỗng trong tay, anh Hiển bảo rằng loại hàng mỹ nghệ này được người Úc ưa chuộng rồi nhờ tôi đưa đi tham quan cái làng nghề đó.

Chiếc thuyền du lịch vượt sông Tiền. Sóng nước mênh mông. Cồn Phụng, cửa ngõ vào Bến Tre, cây xanh và những hàng dừa rủ bóng ven bờ hiện ra trước mắt. Tàu cặp bến. Đi dài theo con đường đất nhỏ, chẳng mấy chốc, chúng tôi đã nghe tiếng máy âm âm vọng tới. Đó là “hơi thở” của ngôi làng gồm 10 cơ sở sản xuất sản phẩm mỹ nghệ bằng gỗ dừa. Anh Hữu Lộc, hướng dẫn viên Trung tâm Điều hành du lịch (Công ty cổ phần Du lịch Bến Tre) cho biết, làng nghề ở đây hoạt động suốt các ngày trong tuần, phục vụ khách tham quan. Trong gian nhà mái tôn bộn bề những miếng gỗ dừa, những vụn dăm bào, mấy người thợ đang gò mình chăm chút từng công đoạn sản xuất. Mũi đục bén ngót trên tay chàng trai trẻ ăn ngọt vào sớ gỗ một cách cẩn trọng tạo thành mặt lõm chiếc vá bới cơm. Xong phần “làm thô”, chiếc vá nhanh chóng được chuyển qua tay người thợ làm bóng. Chỉ vài thao tác, vân gỗ dừa dần hiện lên và những vân ấy càng đẹp hơn sau khi được một người thợ khác đánh bóng bằng sáp.













Michel, con rể anh Hiển rất ngạc nhiên, luôn tắc lưỡi trầm trồ vì không ngờ cái thân dừa tưởng chừng vô dụng lại được chế biến thành một sản phẩm đẹp. Cậu ta rất thích thú khi đứng trước tủ kính trưng bày các sản phẩm. Cứ hết cầm con khỉ bịt tai, vớ con khỉ bịt mắt, rồi lấy con khỉ bụm miệng, Michel tủm tỉm cười hoài. Anh Hiển nói với con rể bằng tiếng Việt: “Mấy con khỉ rắn mắt”. Hai cha con cười vang, khoái trá. Anna Hương, con gái anh Hiển, đứng cạnh chồng, cứ hích cùi chỏ vào hông chàng trai Úc như khuyến khích cậu ta mua cho mình mấy chiếc kẹp tóc bằng gỗ dừa. Cô bảo, về bển chắc chắn “không đụng hàng”. Anh Hiển thì nhanh tay lựa và bảo cô gái bán hàng gói cho mình bộ ấm trà xinh xắn như món đồ chơi. Riêng chị Hiển đang lựa các muỗng, đũa, vá với vẻ mãn nguyện khi chọn những vật dụng nhà bếp “độc chiêu”, hãnh diện những khi có khách. Rời cơ sở, vợ chồng, con cái anh Hiển mang lỉnh kỉnh những gói hàng mà vẫn còn cứ tiếc chưa mua được đủ đầy các loại sản phẩm. Riêng Anna Hương thì cứ chắc lưỡi ân hận vì quên chưa mua được chiếc giỏ đan bằng cọng lá dừa mà cô cứ trầm trồ đẹp ơi là đẹp!

***

Chiếc xe 12 chỗ ngồi chạy êm ru trên con đường tráng nhựa phẳng phiu. Hai bên đường xanh ngút một màu xanh no ấm của hàng bao nhiêu loại cây ăn trái. Vốn được sinh ra trên đất nước kanguroo, nên Anna Hương chốc chốc lại kêu lên: “Ba ơi, đẹp quá kìa!”. Theo tay chỉ của cô, là những vườn cây xanh nổi màu đỏ quyến rũ của trái chôm chôm. Bỗng cô hét toáng lên: “Ôi, trái gì vậy, ba?”. Anh chị Hiển bật cười: “Sầu riêng, con à!”. Những trái cây đầy gai nhọn được bày bán dài theo hai bên đường. Theo yêu cầu của Anna Hương chúng tôi ghé một nhà vườn. Trên những liếp nền đất sạch sẽ, sầu riêng được trồng ngay hàng thẳng lối, cành nào cành nấy lủng lẳng những trái. Nhìn thấy một trái treo tòn ten trên cành bởi sợi dây ni-lông, người chủ vườn nhanh nhẹn leo lên. Một nhát dao cắt dây, xuống đất, một mũi dao tách vỏ, mấy múi sầu riêng có màu vàng bắt mắt ngoan ngoãn nằm yên trong lớp vỏ mỏng dánh hiện ra. Mỗi người cầm một múi mềm mụp, dầy cộm, không dính tay, như được phủ lớp ni-lông, cho vào miệng. Mùi sầu riêng thơm lựng thoảng vào mũi. Miếng sầu riêng tan trên mặt lưỡi thấm sâu đốc giọng cái mùi đặc trưng. Tuyệt vời!



Anh Hữu Lộc giới thiệu, ngoài việc nhà vườn cho sầu riêng ra trái quanh năm, Cái Mơn (Chợ Lách) còn có nhiều vườn bòn bon, măng cụt, xoài cát Hòa Lộc trái to vị ngọt thanh, bưởi da xanh ngọt giòn… Được hình thành bởi ba dãy cù lao nên ưu thế số một của Bến Tre là vườn. Vườn ở xứ này được lập từ thời Tự Đức. Cái Mơn còn có nghề chiết, tháp cây ăn trái nổi tiếng. Ngày nay, người Cái Mơn chuyên tâm sản xuất cây giống để lái nơi khác đến “ăn hàng” đưa đi khắp nơi tiêu thụ.











Cái Mơn còn có vườn kiểng. Từ xưa, kiểng được xem là sáng tạo của miệt vườn. “Người ta nuôi và uốn chúng với những đường nét, quan niệm thẩm mỹ khá độc đáo, khác lối uốn kiểng của người Trung Hoa, của miền Trung hoặc miền Bắc. Kiểng được người dân nơi đây uốn theo kiểu xuy phong, mẫu tử với những tàn tiêu biểu cho tam tùng tứ đức hoặc tam cang ngũ thường, trên chót là ba nhánh nhỏ tiêu biểu cho nhật, nguyệt, tinh. Nhánh kiểng phải “hô, ứng”, nhánh này nghinh thiên thì nhánh kia phải yểm địa…”. (*). Ngoài ra, Cái Mơn còn có nghề uốn kiểng thú. Đi trong những khu vườn yên ả, nhìn bàn tay tài hoa của người thợ uốn, bẻ, sữa, cắt từng nhánh cây, Michel không thể ngờ trên đời có một thú chơi với những con thú “lông xanh” như: nai, cá hóa rồng, ngựa, đặc biệt là con giáp của năm âm lịch, loại hàng được khách Singapore, Hồng Công ưa thích.









Trở về Cần Thơ, anh Hiển cứ tiếc nuối không có điều kiện tham quan hết các làng nghề ở Bến Tre, nơi còn có nhiều cơ sở sản xuất kẹo dừa thơm vị trái cây; bánh phồng sữa có thể ăn ngay không cần nướng có vị ngọt, béo, thơm mùi sầu riêng, lá dứa; và “bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc” nổi tiếng cả nước… Phải nói rằng, làng nghề ở Đồng bằng sông Cửu Long phân bổ đều khắp nông thôn, thu hút hàng chục ngàn lao động, lưu giữ bản sắc văn hóa của cha ông. An Giang có dệt thổ cẩm của người Chăm ở Phủm Xoài (Châu Phong, Tân Châu), của người Khmer ở Sray Sakoth (Văn Giáo, Tịnh Biên), làng cá bè ở Châu Đốc. Phú Quốc (Kiên Giang) với nghề khai thác và chế biến nước mắm cá cơm có hương vị thơm ngon đặc biệt, đến đỗi từ điển La Rousse của Pháp phải đưa từ nuoc-mam vào. Vĩnh Châu (Sóc Trăng) có nghề dệt chiếu gia truyền ở Cà Săng. Gò Đen (Long An) nổi tiếng hàng trăm năm nay với rượu nếp lứt, đặc biệt là nếp trắng cho rượu ngọt đậm, thơm lừng, nước trong, sủi tăm, không có màng bám thành ly. Trà Vinh thì được nhiều người biết đến với nghề làm bánh tráng ở Lương Hòa (Châu Thành) nằm cạnh danh thắng ao Bà Om. Đặc biệt là những nghề theo con nước lớn. Đó là làng đóng ghe xuồng ở Ngã Bảy (Thị xã Tân Hiệp, Hậu Giang) và An Bình (quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ), chuyên đóng xuồng tam bản phục vụ dân chài lưới, đi câu, vận chuyển lúa gạo, thủy sản, trái cây… TP Cần Thơ có xóm lưới Thơm Rơm, làng lọp tép Thới Long (Ô Môn), lò luộc tép Thạnh Quới (Thốt Nốt) hoạt động nhộn nhịp mỗi năm từ tháng 5 đến tháng 9 âm lịch…

Với cảm quan của người nước ngoài, Michel nói một cách khách quan: đa dạng và phong phú, là ưu thế của Đồng bằng sông Cửu Long có thể hấp dẫn khách du lịch. Các làng nghề cần phải được sắp xếp một cách khoa học, nhà xưởng phải được xây dựng theo truyền thống, khang trang, sạch đẹp. Sản phẩm tạo ra phải ngày càng khéo léo, tinh xảo, có giá trị sử dụng trong đời sống, chứ không đơn thuần là vật trang trí. Thiết kế, thay đổi kiểu dáng mẫu mã cần phải được quan tâm, giải quyết tốt đầu ra… Có như thế, diện mạo của các làng nghề của ĐBSCL sẽ được thay đổi, vừa giữ được bản sắc độc đáo không nước nào có vừa mang tính hiện đại, hấp dẫn du khách và phát triển bền vững hơn.









Qua nhận xét của Michel, tôi chợt nhận ra rằng lâu nay có một tiềm năng du lịch chưa được chú ý lắm, dù đã có một vài nơi khai thác. Nhưng rõ ràng nếu lập các tua du lịch làng nghề một cách nguyên xi thì chưa được, cần phải có kế hoạch dài hơi và liên kết cả vùng. Khi đó, làng nghề Đồng bằng sông Cửu Long mới thực sự vào xuân.

-----------
(*) Sơn Nam, “Đồng bằng sông Cửu Long – Nét sinh hoạt xưa & Văn minh miệt vườn”, Nhà xuất bản Trẻ tái bản, 2004, tr. 327.
--------
- Sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ dừa.
- Kiểng thú.
- Sầu riêng Cái Mơn.

___________

Ảnh: Cẩm Nhung

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2008

Tuyệt vời Biển Chết


Huỳnh Kim

Trong dòng thời sự chiến tranh và bạo lực ác liệt giữa Israel và Palestine đang diễn ra từng ngày hôm nay, du khách vẫn nhớ có một địa chỉ du lịch tuyệt vời của hành tinh nằm ngay trong lãnh thổ Israel, đó là Biển Chết (Dead Sea). Chỉ cách Địa Trung Hải chừng 100 cây số về hướng đông, Biển Chết từ hàng nghìn năm nay đã không còn “dan díu” gì với bao biển cả khác. Thế nhưng, mỗi năm vẫn có hằng triệu du khách đến thăm Biển Chết…


* Nơi thấp nhất thế giới
Mất hơn 10 giờ bay đêm từ Băng cốc (Thái Lan), rạng sáng, chiếc Boeing 747 chở hơn 400 hành khách mới hạ cánh xuống sân bay Ben Gurion ở Tel Aviv (Israel) bên bờ Địa Trung Hải. Anh Chali, hướng dẫn viên du lịch thuộc công ty Sharon Tours nói: “Cả ngày hôm nay chúng ta dành cho Biển Chết. Các bạn sẽ được tắm ở một nơi mặn nhất thế giới và là nơi thấp nhất trên bề mặt trái đất, âm 400m. Không cần phao, mọi người vẫn cứ nổi trên mặt biển”.
Vượt bao đồi núi khô cằn, gần trưa mới đi ngang qua thánh địa Jerusalem để bắt đầu “đổ dốc” vào lòng Biển Chết. Biển nằm lọt thõm giữa vùng sa mạc Zudean ở bờ tây và dãy Moab của Jordan ở bờ đông. Xem bản đồ, Biển Chết có hình hài như con cá nhà táng khổng lồ, đầu quay về hướng bắc, vọng lên Jericho, thành phố cổ nhất thế giới – có từ hơn 3.500 năm trước Công nguyên, đuôi vẫy vùng trong hoang mạc Arabah. Biển dài 47 dặm, chỗ rộng nhất 9 dặm, tổng diện tích 360 dặm vuông (khoảng 230.000 hecta). Chali giải thích: “Gọi là biển chết, vì nay trong lòng biển không có sinh vật nào sống nổi và biển không có lối nào thông ra các đại dương”.
Giở cuốn “The Dead Sea” mua được dọc đường, đọc thấy nhiều thông tin thú vị. Biển Chết đã tồn tại trước thời Kinh Thánh (Biblical). Biển nằm trong vết nứt sâu chạy qua chỗ đứt đoạn địa chất. Vết nứt này kéo dài từ dãy Hermon phía bắc đến vịnh Eilat-Akaba ở phía nam, đi qua Hồng Hải, xuống tận châu Phi. Thời nay, dù có năm bị lũ lớn tràn xuống từ các cao nguyên sa mạc vây quanh nhưng nuớc biển cũng không dâng cao bao nhiêu vì thời tiết khắc nghiệt làm nước bốc hơi nhanh. Mấy thập niên gần đây, thậm chí mực nước biển bắt đầu thấp dần, phần vì hạn hán, phần do việc khai thác quá mức của cả Ixraen và Jordan.




Nổi trên Biển Chết

Nước Biển Chết mặn gấp năm lần độ mặn của các đại dương. Từ xa xưa, người ta đã khai thác nước biển ở đây làm muối. Gần đây, người ta lại phát hiện lượng muối và nhiều quặng mỏ khác ở Biển Chết rất cao, 23-28% so với 4-6% ngoài biển khơi. Càng sâu, độ muối và quặng mỏ càng tăng. Nhiều nhất là clorine, bromine, sulfate, sodium, potassium, calcium và magnesium. Cho nên, mọi người trong đoàn càng ngạc nhiên hơn khi biết rằng, từ lòng Biển Chết, bằng công nghệ cao, Ixraen đã tinh chế và xuất khẩu được nhiều loại mỹ phẩm, phân bón và hóa chất chịu nhiệt cao phục vụ cho công nghiệp luyện thép.

* Biển Chết cho người sống
Cuộc hành trình vẫn tiếp tục trong lòng cao nguyên sa mạc. Theo con đường cao tốc dọc dãy Zudean cặp biển, chúng tôi đi dần xuống phương nam, nơi có mực nước thấp nhất hành tinh, âm 400m. Ngồi trong xe buýt máy lạnh, vẫn cảm thấy cái nóng hừng hực bủa vây đầy trời ở bên ngoài. Đôi khi nghe lùng bùng hai lỗ tai như đang “rơi” vào vùng áp suất thấp. Thật khó tin là mình đang “leo đồi vượt núi” nhưng lại ở thấp hơn mặt nước biển hàng trăm mét. Thỉnh thoảng thấy bên vách núi trọc, có dựng tấm bia hoặc tạc những cột mốc ghi rõ “bằng mực nước biển” hoặc “âm 150m”, “âm 300m”… Ở chỗ tấm bia, thường có vài người dân du mục Do Thái với chú lạc đà lang thang chờ du khách ghé chụp hình kỷ niệm để kiếm tiền; mỗi lần chụp, khách biếu người du mục một vài chekal (bốn chekal ăn một đôla Mỹ).
Quá trưa, điểm dừng đầu tiên của du khách là công ty mỹ phẩm Dead Sea nằm bên bờ biển. Dù đã xem quảng cáo trên máy bay, mọi người vẫn bị bất ngờ trước hàng chục loại xà bông, kem dưỡng da hiệu Ahava sang trọng được chiết xuất từ các khoáng chất của Biển Chết. Người tiếp thị của công ty chiếu phim giới thiệu công nghệ khai thác khoáng chất và sản xuất mỹ phẩm Ahava rồi hướng dẫn khách sử dụng từng loại sản phẩm. Lạ nhất là cảnh các nữ du khách trong khi tắm biển, đã lấy “đất bùn” của biển bôi khắp người chỉ chừa hai con mắt, trông như các bức tượng đồng đen phơi trần giữa nắng. “Chất bùn đó dưỡng da trực tiếp rất tốt, nhất là với những ai hay bị khô da và vẩy nến”, chị tiếp thị viên duyên dáng nói. Lập tức, không ai bảo ai, hằng trăm đôla đã được móc ra để đổi lấy những túi mỹ phẩm Ahava với lòng tin đây sẽõ là món quà ý nghĩa cho người thân ở quê nhà.
Nửa giờ sau, cái cảnh “tắm bùn” đó đã rần rần trước mặt khi chúng tôi tới bãi tắm Biển Chết. Hằng trăm du khách, đông nhất là dân phương Tây, lớp thì làm “tượng đồng đen” đứng như trời trồng dưới nắng, lớp khác lại trốn nóng ngồi ghế bố che dù ngắm người khác “thả mình” trên mặt biển.
Trời nóng như đổ lửa, nhiệt độ lên gần 40 độ C. Do chủ quan không mang dép, từ bãi xe buýt xuống tới bờ biển chưa đầy 100m, tôi đã phải chạy như bay vì sỏi cát nóng như nung dưới bàn chân. Tới chừng chạm chân xuống nước, từ từ lội ra xa, lại nghe một cảm giác lạ lùng lan tỏa khắp người, như là nước biển đang massage ta, vừa ấm áp mặn nồng, vừa rờn rợn tái tê. Lội ra xa gần ngập cổ, chợt nghe toàn thân mình nhẹ hẫng như có ai nâng lên. Thế là chỉ cần dang thẳng tay chân, ngẩng cổ lên để tránh nước mặn vào mắt, tôi đã như cái bong bóng nổi phình trên mặt biển. Thích quá, cứ nằm ngửa như vậy, tôi vẫy nhẹ chân đẩy mình ra xa mãi, càng sâu lại nghe mình càng nhẹ hơn.
Lúc này tôi như quên mất mọi người chung quanh cũng đang bập bềnh trôi. Nhắm mắt lại, tôi mơ hồ tưởng tượng ra bao thành quách cổ xưa chôn vùi trong hoang mạc vây quanh mà nay người ta đang khai quật rải từ Jericho, Qumran, En Gedi xuống Masada, Sodom… Mở mắt ra nhìn trời, thấy trời lồng lộng một màu xanh nước biển. Nghiêng đầu nhìn biển, lạ thay, mặt biển nơi đây rặt một màu xanh lá cây. Tôi vội bơi vào bờ, rủ các bạn cùng đoàn chụp ảnh, quay phim, cố ghi lại càng nhiều càng tốt những điều tai nghe mắt thấy.
Anh Chali, hướng dẫn viên du lịch lúc này cũng tỏ ra trầm tư. Anh tiếc không có đủ thời giờ để đoàn ghé lại Qumran, Masada… thăm những đền đài, thành quách toàn bằng đất đá mang đầy chiến tích các vua chúa trước thời Chúa Giêsu giáng sinh. “Leo trèo luồn lách trên những đỉnh non cao ấy, Chali nói, mình dễõ hiểu thêm Biển Chết ở dưới này”.


Tác giả (đội nón) cùng du khách và lạc đà bên Biển Chết

Tối hôm đó trở lại thành phố du lịch Netanya bên bờ Địa Trung Hải, tôi cứ thao thức không tài nào ngủ đuợc. Biển Chết như sống dậy trong tôi, từ thuở hồng hoang của những người dân du mục… Tôi chợt hiểu, dân tộc nào cũng vậy, thời gian và lịch sử sẽ chẳng bao giờ mất đi nếu ta dấn bước tới ngày mai mà buổi hoàng hôn của ngày hôm trước đã hóa thành tâm hồn máu thịt ở trong ta... ./.

_

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2007

Ngược dòng Mêkông

Tháng mười, mùa nước lũ gần đạt đỉnh điểm ở ĐBSCL. Dòng sông Hậu như sôi động hẳn lên chuyên chở phù sa bồi đắp cho khu vực giàu tiềm năng nông nghiệp này. Bắt nguồn từ hàng ngàn cây số xa xôi nơi thượng nguồn, dòng Mêkông chảy vào Campuchia, đến thủ đô Phnôm Pênh rồi chia thành hai nhánh để đi tiếp vào Việt Nam là sông Tiền và sông Hậu.

Đào Duy Hòa

Kim đồng hồ chỉ đúng 7 giờ 30 sáng. Hướng dẫn viên Biên Sỹ Tuấn của tàu cao tốc Tư Trang ra hiệu cho thuyền trưởng Cù Văn Anh rời bến tàu Châu Đốc, ngược dòng sông Hậu trực chỉ biên giới Campuchia. Cả hai đều đã gắn bó nhiều năm với ĐBSCL. Tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Cần Thơ, anh Tuấn làm hướng dẫn viên tiếng Anh cho tàu Tư Trang được bảy năm. Quê ở tận Đồng Nai, thuyền trưởng Anh có thâm niên lái cho hãng tàu Tư Trang cũng chừng ấy năm.

Chỉ trong thoáng chốc, tàu tăng tốc đạt 40- 45 km/giờ, bỏ lại sau lưng làng nhà bè nuôi cá basa dọc hai bờ sông. Mười lăm phút sau, tàu quẹo phải vào kênh Xáng đi ra Tân Châu. Bên bờ trái kênh Xáng, những cánh đồng xanh um vào mùa khô giờ đã ngập sâu dưới 1- 2 mét nước. Tàu thuyền nhỏ có thể dễ dàng lưu thông băng qua cánh đồng. Con lộ chạy dài theo bờ kênh cũng bị ngập, chỉ còn nhìn thấy hàng cột điện bằng xi măng, hàng me nước, bần, còng, bạch đàn, bụi tre... lưa thưa nhô lên khỏi mặt nước...

Phải mất 20 phút, tàu mới chạy qua hết kênh Xáng. Sông Tiền rộng bao la hiện ra phía trước. Chiếc tàu lại rẽ trái ngược dòng sông Tiền lên cửa khẩu Vĩnh Xương. Đoạn sông này rộng trên dưới 1.000 mét, dân cư hai bên bờ khá thưa thớt. Không ít nơi bị nước lũ ngập sâu... nhìn chỉ thấy toàn một màu nước trắng xóa. Đó đây một vài chiếc thuyền câu, lưới cá... Mười lăm vị khách đến từ Hà Lan, Bỉ, Thụy Điển... không khỏi ngạc nhiên trước cảnh vật bao la, mênh mông của tạo hóa.

Sau hai mươi lăm phút lướt êm trên sông Tiền, tàu cặp bến cửa khẩu Vĩnh Xương. Cách cửa khẩu Việt Nam chừng 100 mét là trạm kiểm soát cửa khẩu của Campuchia. Hầu hết du khách đều chụp hình kỷ niệm tại cột mốc phân chia ranh giới hai nước láng giềng. Ba mươi phút là thời gian làm thủ tục xuất cảnh: kiểm tra hộ chiếu, visa... và đóng mộc ký tên. Hoàn tất thủ tục bên Việt Nam, tàu tách bến và chầm chậm lướt qua biên giới. Bây giờ lá cờ Việt Nam treo ở mũi tàu đã được thuyền trưởng thay bằng cờ Campuchia theo quy định của hai nước.

Anh Tuấn cho biết trung bình mỗi ngày có khoảng 70-80 khách du lịch nước ngoài qua cửa khẩu Việt Nam - Campuchia. Con số này đang có chiều hướng tăng lên vì ngày càng có nhiều người biết đến tour khám phá đường sông này. Hiện có bốn đội tàu cao tốc với khoảng mười chiếc lớn (25 khách) nhỏ (10 khách) vận chuyển khách tuyến Châu Đốc - Phnôm Pênh và ngược lại. Đó là đội tàu của khách sạn Victoria Châu Đốc, tàu Tư Trang, Blue Cruiser và Hàng Châu. Giá vé cao nhất là 75 đô la Mỹ và thấp nhất là 17 đô la Mỹ/người cho một lượt đi hoặc về. Giá vé bao gồm bữa ăn nhẹ và không bao gồm phí visa.

Tàu chạy năm phút thì tới công an cửa khẩu của Campuchia. Thông thường chỉ mất 30 phút làm visa nhập cảnh Campuchia nhưng hôm nay do khách khá đông nên phải mất 50 phút mới hoàn tất thủ tục cho cả đoàn.

Rời bến cửa khẩu Campuchia, tàu tăng tốc ngược dòng Mêkông. Hai bên bờ sông xanh rì một màu cây lá. Dân cư thưa thớt hẳn đi. Thỉnh thoảng mới thấy một vài nóc nhà hoặc một ngôi chùa mái cong vút, vàng rực. Hầu như không thấy một bóng nhà bè nuôi cá ba sa như bên phía Việt Nam. Thỉnh thoảng mới xuất hiện một chiếc xáng đơn độc khai thác cát giữa dòng sông mênh mông. Cát khai thác ở đây thuộc loại tốt để dùng trong xây dựng. Chính phủ Campuchia rất hạn chế trong việc cấp phép khai thác cát để chống sạt lở. Thế nhưng hàng năm mỗi bên bờ sông cũng bị thu hẹp khoảng hơn năm mét.

Giữa bạt ngàn sông nước thỉnh thoảng lại nổi lên một cù lao xanh um. Đó đây thấp thoáng vài mái nhà lợp tôn. Vài đàn bò nhởn nhơ gặm cỏ. Cùng đàn cò trắng kiếm ăn trên cánh đồng lúp xúp nước. Càng vào sâu trong lãnh thổ Campuchia, dân cư tăng dần. Cây thốt nốt, đặc trưng của xứ sở Chùa Tháp, cũng nhiều hơn.

Từ biên giới Campuchia đến phà Neak Luoeng, tàu chạy mất 60 phút. Hai bên bờ là những ngôi nhà khá to lợp ngói đỏ. Đường bộ bên bờ phải nối liền Neak Luoeng với cửa khẩu Mộc Bài, thuộc tỉnh Tây Ninh. Bờ bên trái là đường bộ dẫn lên thành phố Phnôm Pênh.

Càng tới gần Phnôm Pênh, mật độ nhà cửa, chùa chiền càng dày thêm. Khi tàu cách bến cảng Sisowat 15-20 phút, xuất hiện những ngôi biệt thự, đền chùa nguy nga, một số nhà cao tầng... Bên bờ trái là tòa nhà bộ ngoại giao, đền vua tráng lệ, casino Gana hiện đại, khách sạn Cambodiana theo kiến trúc cổ hoành tráng... Xa xa phía trước, cầu Chruichangwa, còn gọi là cầu Hữu Nghị Nhật - Campuchia, bắc ngang qua sông...

Đúng 12 giờ 30, tàu cặp bến Sisowat. Khách lần lượt lên bến tiếp tục cuộc hành trình trên đất Chùa Tháp. Tôi kịp ghi nhận lại cảm tưởng của một du khách trên tàu, ông Van Ooyen Willem, 56 tuổi, đến từ Hà Lan: “Lai lịch dòng sông Mêkông và những điều tai nghe mắt thấy dọc hai bên bờ sông làm tôi vô cùng thích thú. Nhóm của chúng tôi gồm bốn người đến Hà Nội được ba tuần, đã thăm Hà Nội, Sapa, Hạ Long, Huế, Sài Gòn, Cần Thơ và Châu Đốc. Điều khiến chúng tôi thú vị nhất là có sự khác biệt rất rõ giữa những nơi chúng tôi đến. Thậm chí Cần Thơ và Châu Đốc chỉ cách nhau 120 ki lô mét nhưng mọi thứ rất khác nhau, từ nhà cửa, cảnh quan, cư dân, chợ búa... Thật là một chuyến đi đáng nhớ...”.


_____

Bài đã đăng trên Thời báo Kinh tế SàiGòn số 48-2007

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2007

Ký sự du lịch: MÙA SAU

Huỳnh Kim

Người hướng dẫn viên du lịch Trung Hoa nói tiếng Việt sành sỏi: “Dù Trung Quốc đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, nhưng dịp này chúng tôi mong quí vị du khách hãy quên chuyện đời nay mà nhớ chuyện đời xưa. Vì chuyến này chúng ta sẽ thăm Vạn lý trường thành và Thập tam lăng cách Bắc Kinh trong vòng 50 dặm. Sau đó lại quay về Bắc Kinh thăm Di Hòa Viên. Rồi quí vị muốn hiểu người Trung Quốc hôm nay ra sao thì tùy hỉ”…

1.

Anh ta nói tiếp trên chuyến xe rời Bắc Kinh lên phương Bắc: “Dẫu là dã sử hay là chính sử thì chuyện nàng Mạnh Hương và Tần Thủy Hoàng Đế cũng là câu chuyện mà người Trung Quốc muốn kể cùng du khách”.

Hơn hai ngàn năm trước, nàng Mạnh Hương xinh đẹp tuyệt trần, cùng bao người vợ quê khác, đã tiễn chồng ra đi xây dựng Vạn lý trường thành. Rồi một ngày kia, nàng được tin chồng đã bỏ thây nơi rừng núi trường thành. Thương nhớ chồng khôn xiết, Mạnh Hương khóc suốt ba ngày ba đêm. Và không hiểu làm sao, những đêm đẫm lệ của nàng đã làm bức tường thành nơi ấy đổ sụp.

Tần Thủy Hoàng biết chuyện, đòi chém Mạnh Hương. Nhưng khi gặp nàng, vị đế vương bỗng đem lòng yêu say đắm, đòi triệu nàng về cung. Mạnh Hương là người đẹp thông minh, nàng nghĩ kế đòi Tần Thủy Hoàng cho làm tang lễ chồng ba ngày ba đêm thì nàng mới về cung. Sau ba ngày tang lễ, Mạnh Hương lại xin vua cho nàng được tới Vạn lý trường thành viếng chồng lần cuối. Tần Thủy Hoàng lại chìu nàng lần nữa. Nhưng khi tới nơi người chồng yêu dấu bỏ mình, nàng Mạnh Hương xinh đẹp và thủy chung đã gieo mình tự vẫn.

Trong cái lạnh không độ, ngẩng nhìn trời xanh trên đỉnh núi Yến Sương, tôi cùng bao khách hành hương đến từ khắp nơi trên trái đất, bắt đầu lặng lẽ bước lên từng bậc đá ngàn xưa mà ngẫm nghĩ tới người nay. Chẳng có ai leo nổi 5.700 km dãy trường thành hiểm trở vắt ngang đỉnh trời phương Bắc Trung Hoa. Cũng không có mấy người leo hết 1.480 bậc đá nơi cổng Cư Dung Quan này. Có những bậc đá đã mòn dấu chân người cỡ nửa gang tay. Phải chăng cái ý chí chinh phục đất trời và lòng người theo kiểu cường quyền, rồi cũng phôi pha như vậy?

Nhớ chuyện nàng Mạnh Hương, mới hay, đã sanh ra trong vòm trời này, làm kiếp người trong cõi nhân gian này, thì lòng nhân nghĩa và tình yêu, bao giờ cũng là điều bất tử. Dù cho, triều đại có đổi thay, chính thể có đổi thay, nhưng muôn thuở, tình yêu và lòng nhân nghĩa vẫn không bao giờ thay đổi.

2.

Cách Vạn lý trường thành không xa, dưới chân dãy Yến Sương, là vùng lăng tẩm rộng 40 cây số vuông của 13 triều đại vua nhà Minh, có tên Thập tam lăng.

Trong Thập tam lăng, tới giờ, người ta mới chỉ khai quật được ngôi mộ của vua Vạn Lịch, vua nhà Minh thứ 13, mà nay du khách gọi là khu Định Lăng. 12 vị vua kia, dù đã biết rõ địa điểm chập chùng trong núi Yên Sương, nhưng vẫn chưa ai tìm được lối vào đích xác của từng hầm mộ để mà khai quật.

Hầm mộ vua Vạn Lịch được xây từ 425 năm trước, khi vua đang trị vì ở tuổi 21, năm 1590 thì xây xong. 30 năm sau, khi nhà vua băng hà, mới được an táng vào đây và xóa sạch mọi dấu vết khu hầm mộ. Mãi tới năm 1956, các nhà khảo cổ Trung Quốc mới tìm được đường vào và khai quật mộ. Quần thể khu Định Lăng giờ được bảo tồn hoành tráng và kỳ vĩ giữa những cánh rừng tùng bách đại ngàn. Riêng hầm mộ, ở cách mặt đất 27m, với đầy đủ thành quách cùng những lối đi bí mật và tất cả đều được xây bằng đá.

Theo lối vào đầy bóng tối, lòng lữ khách cứ trầm tư trước nơi yên nghỉ đầy quyền năng của vua chúa ngày xưa. Quan tài của vua Vạn Lịch cùng quan tài hai hoàng hậu vẫn đang nằm trên nền đá, tựa vào vách đá, lạnh lẽo bên 26 hòm chứa bao trân châu vàng bạc chôn theo.

Chợt tự hỏi lòng: cũng là biểu hiện của khát vọng được tồn tại vĩnh cửu, nhưng sao dưới lòng đất kia, con người ta lại âm thầm cô quạnh đến thế, còn trên mặt đất này, những thân tùng bách xa xưa vẫn xanh um dạt dào sinh nở cùng với đất trời này?

Leo lên Vạn lý trường thành đối diện với trời xanh, rồi lại bước xuống dưới cõi âm u mặt đất đi tìm thế giới người xưa trong dòng thời gian hơn hai ngàn năm lẻ, tôi cứ nghĩ tới một điều: phải chăng, cái quí nhất là được sinh ra làm một kiếp người – một kiếp người biết yêu thương nhau và tránh xa thù hận.

3.

Mới chớm đông mà có đêm Bắc Kinh đã âm ba độ. Ấn tượng nhất trong lòng du khách phương Nam, lại là những hàng cây mùa đông rụng lá đẹp lạ kỳ ở hai bên những con đường thành phố. Bắc Kinh có ba loài cây xanh rất riêng. Cây bạch dương tượng trưng cho người đàn ông, cây liễu tượng trưng cho người đàn bà và cây ngân hạnh tượng trưng cho hạnh phúc của hai người nam và nữ. Lạ là cây ngân hạnh luôn sống có đôi, nếu một trong hai cây đực hoặc cái chết đi thì cây kia sớm muộn cũng chết theo, mặc dù không chung gốc.

Ta cố tìm một chiếc lá ngân hạnh nhưng không thể vì cây chỉ còn những cành trơ, đan tay nhau dệt nên mùa đông hạnh phúc. Ta nhặt một chiếc lá bạch dương vừa bay theo ngọn gió đông, nghĩ rằng sẽ theo ta về lại quê nhà vắng bóng bạch dương.

4.

Vào Di Hòa Viên đi tìm Từ Hi Thái Hậu. Di Hòa Viên, công viên hoàng gia rộng nhất thế giới, tới 290 hecta. Di Hòa Viên đã có từ 250 năm trước gồm quần thể kiến trúc nhà nghỉ cung đình và chùa chiền quanh hồ nhân tạo Côn Minh bao phủ núi Kim Sơn. Chủ nhân Di Hòa Viên là Từ Hi Thái Hậu.

Từ Hi Thái Hậu là một trong hai người đàn bà lừng lẫy nhất lịch sử Trung Hoa. Người kia là Võ Tắc Thiên đời Đường. Đó là hai người đàn bà “tự mình làm vua”.

Xưa, nàng là cô gái đẹp Mãn Châu tên Tiểu Lan, sớm mồ côi cha, cùng mẹ và ba em trai lên Bắc Kinh sinh sống. Một ngày kia, Tiểu Lan tròn 16 tuổi và đã được vua Hàm Phong, vua nhà Thanh thứ bảy, tuyển vào cung. Mà câu chuyện hoàn toàn không ngẫu nhiên, bởi vì Tiểu Lan là một người con gái “không chịu thua ai bao giờ” trong cuộc đời này.

Ngày ấy, nàng đã hối lộ vị quan thái giám cận kề nhà vua để được tiếp cận vua. Ngày ấy, vua Hàm Phong đi dạo chơi trong Viên Minh Viên. Giữa đường vua chợt nghe vẳng lên giọng hát du dương. Tìm tới nơi, vua sững sờ trước một thiếu nữ mặc toàn xiêm y màu đỏ đang đứng giữa đầm sen hồng say sưa hát.

Thế là sáng hôm sau, nàng Tiểu Lan đã hóa thành Lan Quí Nhân, ở trong cung vua.

Lan Quí Nhân và Hàm Phong sanh được người con trai. Khi Hàm Phong qua đời, người này mới lên sáu tuổi và được phong làm vua, hiệu Đồng Trị. Kể từ đó, Tiểu Lan – Lan Quí Nhân trở thành Từ Hi Thái Hậu.

Do vua Đồng Trị còn nhỏ, Từ Hi Thái Hậu quyết thay vua nhiếp chính. Bà đã giết tám vị đại thần chống lại ý mình để thực hiện quyền hành. Mỗi khi vua thiết triều, Từ Hi Thái Hậu luôn ngồi bên bức rèm sau lưng vua để ra quyết định; nhà vua chỉ cần lặp lại lời của mẹ. Đây là chiến thuật “buông rèm nhiếp chính”.

Nhưng mới 19 tuổi, vua Đồng Trị đã mất. Từ Hi Thái Hậu đưa người cháu mới bốn tuổi tên Quang Tự lên kế vị và tiếp tục “buông rèm nhiếp chính”. Nhưng rồi vua Quang Tự thực hiện “bách nhật duy tân” – 100 ngày cải cách, đụng đến quyền hành Từ Hi Thái Hậu. Bà đã giết các đại thần ủng hộ vua và giam lỏng nhà vua trong Di Hòa Viên, tự mình cầm quyền cho tới khi vua Quang Tự mất lúc mới hơn 30 tuổi. Ba năm sau, Từ Hi Thái Hậu cũng qua đời. Nhưng trước khi mất, bà đã đưa Phổ Nghi mới ba tuổi lên ngai vàng. Phổ Nghi là vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Hoa…

… Lạ là hết thảy những chuyện này cứ hiện lên trong mỗi bước chân lữ khách tìm đến những nơi mà ngày xưa Từ Hi Thái Hậu nghỉ ngơi trong Di Hòa Viên. Mà nơi đâu cũng ẩn hiện cốt cách của người đàn bà đẹp đầy quyền uy này.

Tỉ như chuyện Từ Hi Thái Hậu là người có nhiều bí quyết dưỡng sinh: nàng rất thích uống sữa và chỉ thích uống sữa người và nàng rất thích tắm bằng sữa bò. Hoặc nàng đã có sáng kiến dùng ngọc thạch để làm đồ massage da mặt; dùng ngọc trai nước ngọt nuôi trong hồ Côn Minh cho chế thành biệt dược ngọc trai để uống… Nhờ vậy mà dù chồng chết ở tuổi 27 và có nhiều tình nhân, nhưng tới hơn 60 tuổi, da nàng vẫn đẹp như thuở còn là thiếu nữ Tiểu Lan. Và Từ Hi Thái Hậu đã sống tới tuổi 74.

Hoặc tỉ như chuyện ta bước tới vườn hoa mẫu đơn trong Di Hòa Viên. Mẫu đơn là “quốc hoa” của người Trung Quốc vì nó tượng trưng cho quyền quí, và là loài hoa mà Từ Hi Thái Hậu yêu quí nhất.

Nơi đây, đã từng xảy ra một câu chuyện vô cùng lãng mạn kiểu Từ Hi Thái Hậu – Tiểu Lan.

Sáng hôm ấy, Từ Hi Thái Hậu, sau khi tắm xong, chỉ khoác một tấm áo mỏng manh rồi đi dạo đến vườn hoa mẫu đơn. Theo sau nàng là chàng thái giám Lý Liên Anh, người nghệ sĩ tài hoa mà nàng yêu nhất trên đời. Giữa vườn mẫu đơn rộn ràng hương sắc, chợt một làn gió thổi qua làm bay đi tấm áo khoác mong manh trên người Thái Hậu. Chàng thái giám giật mình nhặt lấy tấm áo, cúi đầu dâng trả chủ nhân. Từ Hi Tiểu Lan cất giọng: “Nhà ngươi đã nhìn thấy gì trong vườn hoa mẫu đơn đang lộng lẫy?”. Lý Liên Anh, không một phút chần chừ suy nghĩ, đã tâu: “Thưa Thái Hậu, thần vừa nhìn thấy một đóa mẫu đơn màu đen đẹp nhất trong vườn mẫu đơn đầy hương sắc sáng nay”.

Ai cũng biết, hoa mẫu đơn làm gì có màu đen. Nhưng đó là một câu trả lời thông minh và nghệ sĩ của một người mà Từ Hi Thái Hậu yêu quí nhất. Nên không có luật lệ nào của triều đình Mãn Thanh buộc Từ Hi phải xử tội chém đầu với vị quan thái giám Lý Liên Anh. Bởi giả như Lý Liên Anh tâu “không thấy gì” hoặc nói rõ đã thấy gì, đều mang tội “khi quân”, phải bị chém đầu.

Tình yêu và uy quyền, một lần nữa, đã chiến thắng giữa cõi đời này.

5.

Hàng bạch dương trước khách sạn Hòa Bình Lý giữa nội ô Bắc Kinh, chiều nay sau khi ta ghé thăm nàng Tiểu Lan trở về, hàng bạch dương mạnh mẽ ấy đã trút hết lá để đón mùa đông. Nhìn những thân bạch dương cường tráng vươn lên bầu trời đông phương Bắc trong chiều hoàng hôn đang xuống, ta, người lữ khách phương Nam, đã tìm thấy một sức mạnh mới cho những mùa sau.

Rồi mùa đông này sẽ giá buốt hơn. Nhưng mùa đông ấy sẽ trôi qua. Mùa xuân sẽ tới. Ta là thân bạch dương vươn mình trong nắng mới. Là sức mạnh và tình yêu suốt bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông.


_

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2007

ĐI TRONG MÀU XANH MIỀN TÂY

Huỳnh Kim

“Đi trong màu xanh đồng bằng sông Cửu Long” là tên một tour du lịch sinh thái của Trung tâm điều hành du lịch Cửu Long (Vĩnh Long). Rời bến đò du lịch thị xã Vĩnh Long, chúng tôi đã theo chân một đoàn du khách Mỹ…

Trời chạng vạng, chiếc vỏ lãi tấp vào cầu tàu nhà sàn ông Mười Đậy. Bảy thầy trò giáo sư Raymond F. Turner thuộc đại học Naval Academy (Mỹ) ào lên nhà sàn. Thoáng một cái, đã thấy ba chàng trai và ba cô gái thay đồ tắm, nhảy ùm xuống sông. Còn thầy Turner thì mắc võng ngoài hiên nhà, nhâm nhi bia 333, thích thú nhìn các học trò đang bơi lội đùa giỡn dưới sông.

Từ sáng tới giờ, họ đã đi một tua kỳ thú. Rời thị xã Vĩnh Long, thăm lò gốm Hiệp Lợi ở huyện Long Hồ, rồi băng ngang sông Cổ Chiên mênh mông sóng gió phù sa, “đột nhập” vào cù lao An Bình chằng chịt kênh rạch và sum suê cây trái, hoa kiểng. Bữa trưa, ông chủ nhà vườn Mười Hưởng “đãi” năm món đặc sản cù lao, dẫn khách đi thăm bốn hecta vườn nhãn và nghe ông kể chuyện ba đời làm vườn mà nay tới đời ông thì kể đã gần 70 năm. Chiều đi tiếp tới nhà vườn ông Sáu Giáo, thưởng thức cái đẹp của “văn hóa kiểng miền Tây” tràn trề quanh chỗ khách ngồi. “Đổ bộ” xuống xuồng chèo len lỏi trong những con rạch nhỏ rồi lại lên thuyền máy “thả rong” tà tà theo ánh hoàng hôn để tới nhà ông Mười Đậy đặng thưởng thức tiếp cái thú ăn ngủ nhà sàn và nghe ca nhạc tài tử .

Hình như cái gì cũng lạ với các du khách Mỹ này. Sao mà ở đâu cũng gặp nụ cười rồi những cái vẫy tay chào thân thiện của người dân địa phương, dù chỉ lướt qua, như là hình ảnh các em nhỏ ngồi ngất ngưởng ở đầu mũi xuồng chạy ngược chiều. Sao cây trái tốt tươi mà xóm làng lại yên ả như thế. Sao có cây kiểng, bên ba nhánh, bên bốn nhánh rồi bên năm nhánh… Người hướng dẫn du lịch giải thích đó là chủ nhà vườn muốn thể kiện cái đạo “tam cương, ngũ thường”, “tam tòng, tứ đức”… của người xưa. Hoặc là vì sao dưới những rặng bần xanh um, thấy rừng rễ bần tua tủa mà không nghe người ta gọi “rễ bần” lại kêu “cặt bần”. Tức thì người hướng dẫn du lịch đọc lên hai câu ca dao đối đáp: “Sóng đánh cặt bần run lẩy bẩy, gió đưa dái mít giẫy tê tê” để nói rằng, cái nết văn hóa khẩn hoang Nam bộ nó phong phú, đa dạng như chính cảnh đất trời, sông nước mà du khách đang quyện lẫn vào…

Khi ông Mười Đậy vừa chuẩn bị xong ghế bố, mùng mền và tuyên bố sẽ đãi khách một bữa cơm chiều “đạm bạc” có cá tai tượng kho tương, tôi hỏi Turner với tư cách là giáo sư kinh tế học đã từng tham chiến ở Việt Nam: “Nhà sàn đơn sơ, đất trời rộng mở như vầy, liệu có hiệu quả kinh tế hay không trong mở mang du lịch?”. Turner: “Đừng cải thiện thêm ngoài những gì trong nhà đã có. Cải thiện nữa thì sẽ làm hỏng môi trường sông nước là cái mà du khách quốc tế cần. Tuyệt nhất vẫn là con người Việt Nam, rất thân thiện, rộng mở và lịch sự. Chúng tôi đã đi từ miền Bắc vào và tôi chọn tua Vĩnh Long để sinh viên có thể đến hằng năm vì đây là điểm du lịch khá đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long”.

Turner nói, chỉ nên thêm điểm tham quan để du khách hiểu thêm truyền thống, văn bóa đồng bằng. Chuyện này thì anh Việt Tuấn, Giám đốc Trung tâm điều hành du lịch Cửu Long đã “có kế hoạch”. Anh Tuấn bảo, sẽ tiếp tục duy trì tốt mối quan hệ làm ăn với hơn 50 đơn vị lữ hành trong nước và với nhiều chủ nhà vườn ở cù lao An Bình. Sẽ làm thêm các chương trình du lịch trên sông nước gắn với giữ môi trường sinh thái thật tốt để du khách hòa mình với thiên nhiên, hiểu thêm đời sống thường nhật của người dân Nam bộ. Tỉ như đưa khách xem các lò gốm, lò cốm, lò bánh tráng, lò gạch, lò rèn, chằm nón, chằm lá, làm vườn, làm lúa, giăng câu bắt cá, ca nhạc tài tử, chơi hoa kiểng…

Lúc này thì sáu anh chị sinh viên mà hai năm nữa sẽ tốt nghiệp, vừa bơi xuồng về, trên tay mấy cô gái lủng lẳng những chùm nhãn da bò hái được dọc bờ sông. Erin Elizabeth Orlich, giơ chùm nhãn lên: “Thật tuyệt! Nhưng mà mỏi tay lắm vì cây dầm nặng quá!”. Hổng dè điều đó lại trở thành sáng kiến mới của Hoàng Trần Anh, người của công ty du lịch Mỹ Global Spectrum có văn phòng đại diện tại Đà Nẵng và là đơn vị tổ chức chuyến lữ hành này: “Chúng tôi sẽ bàn với Công ty Du lịch Vĩnh Long mở thêm các tuyến bơi xuồng cho du khách quốc tế. Sông nước ở đây rất đạt cho yêu cầu đó, lại có thể khai thác quanh năm. Chỉ cần cải tiến cây dầm cho nhẹ hơn. Có thể tháng tới sẽ đi khảo sát các tuyến sông và đặt làm một loạt cây dầm bằng nhôm đúng tiêu chuẩn dầm bơi thể thao quốc tế”.

Đêm hôm đó, tới nửa đêm thầy trò Turner còn mắc võng ngoài hiên. Chắc là cái không khí tràn đầy tình cảm của buổi tối nghe ca nhạc tài tử rồi cùng nhau ca hát trên nhà sàn trong âm vang tiếng máy nổ ghe xuồng xuôi ngược dưới sông, đã làm đắm lòng du khách.

Sáng bữa sau, anh Lý Hoàn Cảnh, Phó giám đốc Trung tâm Điều hành du lịch Cửu Long thông báo tin sốt dẻo: sẽ ghé thăm UBND xã Hòa Ninh ở giữa cù lao để đoàn tặng anh nông dân nghèo Ngô Ngọc Kiệt một chiếc xuồng và một tay lưới trị giá ba triệu đồng. Giáo sư Turner nói: “Vì sao ta không làm du lịch từ thiện trong một thế giới đang quá nhỏ hẹp bởi công nghệ Internet. Cái chiếc tam bản đó là quà tặng của sinh viên trường chúng tôi”. Anh Lý Hoàn Cảnh nói: “Nhận được fax du khách có nhu cầu này, tụi tôi bàn với xã chọn người và đi đặt đóng thuyền ngay. Cũng là chuyện mới trong nghề du lịch xanh của mình”.


Tặng quà xong, chúng tôi chia tay nhau; thầy trò Turner đi tiếp tới chợ nổi Cái Bè bên Tiền Giang trước khi về lại TPHCM. Anh Lê Hoàng Minh, Phó bí thư Chi bộ xã Hòa Ninh đã làm ba cô gái xúc động với ba chùm hoa hoàng hậu vàng rực mà anh hái tặng khách ngay trước sân trụ sở xã. Còn tôi, quay trở về Cần Thơ sông nước với những dòng “lưu bút” trong sáng, dễ thương của những người bạn mới. Xin chép lại, gửi tặng bạn đọc vài dòng trong số đó.

“Cho tới giờ, tua đồng bằng sông Củu Long là tua hấp dẫn nhất trong hành trình của tôi. Người dân ở đây thật kỳ diệu, hào phóng và thân thiện. Có thể cảm nhận được cái đẹp của đồng bằng ngay trong sông nước, cây xanh và bầu trời khoáng đãng. Người hướng dẫn thật tuyệt, vì ảnh hiểu biết vùng này tường tận. Còn thức ăn thì khỏi chê. Ngay từ những trái dừa nước đầu tiên bà con mời mình, đã làm cho tôi hiểu rằng, nó thuần túy Việt Nam biết chừng nào. Chỉ hai ngày thôi mà tôi thấy cảm mến nơi này quá đỗi. Nếu tua dài hơn nữa thì chắc là tôi khó mà xa rời nơi đây”. (Travis Bohlinger).

“Đồng bằng sông Cửu Long là nơi mà du khách phải tới. Người dân thật là rộng lượng và hiếu khách. Sự thanh bình ở đây là cả một kho báu. Như là có một ý nghĩa khác nằm ngoài cuộc sống của đồng bằng. Đồng bằng này là viên ngọc của Việt Nam. Mình chẳng thể nào quên được cái đêm ngủ trên nhà sàn. Chủ nhà hiền lành, tốt bụng. Thức ăn quá ngon và những bài ca tài tử, những câu chuyện giải trí mới tuyệt làm sao. Xin cảm ơn một quê hương tươi đẹp. Sẽ chẳng thể nào quên…”. (Erin Elizabeth Orlich)./.

____________

“Nguyên văn” ý kiến của 6 bạn sinh viên ấy như sau:

+ Mr.TRAVIS BOHLINGER: The Mekong Delta tour was the most fasvinating part of my trip so far. The people here are magical, full of generosity and so willing to talk. The beauty of the Delta is constantly visible, from the water, to the lush greenery and amazing skylines.
The tour operators themselves were wonderful. They made us very comfortable, and their knowledge of the area was extensive.
The food was great. Stating out with coconut jiuce soon after we embarked let me known that this tour was genvinely Vietnamese, without any Americanication to spoil it.
The length of the tour was perfect. I am glad that we were exposed for only a couple of days, because any longer than that it would have been very hard to leave these people and the incredible area of the world that they live in.

+ Ms KRISTY NISTLER: Everyone in the Delta seemed so friendly. I felt like I had stepped into a different world. It was great to eat fresh fruit right off of the tree and fresh fish from the water. That is something that we cannot get in the United States.

+ Mr DAVID NEALL: The trip on the boat through the Mekong Delta was an experience that I’ll never forget. The scenery along the river is beautiful, but what is more beautiful is the people. They lead such simple lives and it brings them such joy to see new people. The rough, hard-working faces light up when you wave or smile. Seeing the characteristic of the people here makes me want to change a lot of the things I see + do in US. I definitely plan on coming back to Vietnam.

+ Mr EDWARD HAN: I am continually amazed and delighted by the people of the Mekong. Everyone is so rich with findness that it is overwhelming.

+ Ms LESLEY ALEXANDER: This trip has been amazing. I have read books and watched movies about Vietnam, but seeing the country and the people with my own eyes has taught me so much. The land is breathtaking, the people are friendly, and the food is wonderful. I don’t want to leave!

+ Ms ERIN ELIZABETH ORLICH: The Mekong Delta of Vietnam is a “must see” for all visitors. The people are so generous and peaceful. The tranquility is a treasure. There is a different meaning of life down here in the Delta. We swam in the river and asleep under a blanket of stars. I had no sense of time the whole duration of our visit, but it didn’t matter. I let myself get lost in the scenery and screnity of the Delta. The Mekong is a jewel of Vietnam. I will always remember my visit to the house on stilts. Our host was very kind and generous. The food was delicious and the entertainment was excellent!
Thank you for shawing with us your beautiful home. You will be rememberd.

Thứ Tư, 19 tháng 9, 2007

PHÚ QUỐC MÙA HOA SIM

Phương Hà


Ra khỏi phòng đợi sân bay Phú Quốc, bị vây chặt bởi tài xế xe taxi và xe ôm, tôi chỉ thoát ra được khi “ừ đại” với một gã mặt mày không dữ dằn lắm. Lần đầu đến thị trấn Dương Đông, lại không có bản đồ hòn đảo này nên tôi bảo gã taxi đưa đến Văn phòng Hội Nông dân huyện Phú Quốc, đường Nguyễn Trung Trực, còn xa hay gần sân bay thì chịu. Gã taxi chạy lòng vòng, tôi sinh nghi, nhắc lại nơi cần đến lần nữa, gã bảo Dương Đông mới được đặt tên đường, nên phải tìm. Chạy một hồi, tôi lại thấy cổng sân bay. Thì ra Hội Nông dân cách sân bay chưa đến 300 mét! Buộc phải trả tiền theo giá của gã taxi mà bảng hiệu thuộc Tổng công ty Dịch vụ hàng không sân bay Tân Sơn Nhất - Chi nhánh Phú Quốc, tôi thề không bao giờ sử dụng dịch vụ “chém khách” này nữa!

Bà bạn Nguyễn Thị Ghiêm - Chủ tịch Hội Nông dân Phú Quốc, nghe tôi kể chuyện bị taxi “ăn gian”, cười buồn, nói: “Dân tứ xứ đổ về Phú Quốc làm ăn, nay đã trên 8 vạn người, không ít kẻ chụp giựt khách du lịch. Hạt tiêu tại vựa cao lắm 70 ngàn một ký lô, ra chợ, tiểu thương bán cho khách du lịch trăm hai, trăm ba; mực khô cũng vậy, một ký lô đắt hơn mua ở Sài Gòn đến vài chục ngàn đồng - Bổng chị vui hẳn lên - Nói vậy chớ Phú Quốc không đến nỗi làm anh thất vọng; rừng, biển nguyên sơ, tha hồ thưởng ngoạn, dân cố cựu sống dưới các chân núi thật thà, hiếu khách lắm - Rồi đột ngột chị hỏi - Anh có thích hoa sim không? Phú Quốc đang mùa sim tím…”…

Đang mùa sim tím… Bốn mùa sim tím 1969 - 1972, chiều chiều trong trại tù binh Cây Dừa, tôi thả hồn thang thang chân núi Đồi Sim tím biếc chiều hoang biền biệt, ngay ngoài lớp lớp dây thép gai mà mơ ngày tự do… Cám ơn Ghiêm đã nhắc đến cái màu tím thủy chung 35 năm trời tôi mong nhớ ấy…

Như hiểu thấu lòng tôi muốn sống trọn vẹn mấy ngày với Phú Quốc, Ghiêm bảo lấy xe máy của em, tự đi...

Thế là hơn tiếng đồng hồ sau khi xuống máy bay, tôi bắt đầu lang thang giữa hòn đảo có hình dáng châu Mỹ Latin, chiều dài 50 km, chiều rộng nơi rộng nhất phía bắc đảo 28 km, nơi hẹp nhất phía cảng An Thới 3 km, một vòng đảo khoảng 180 km là bao trọn 593 km vuông. Tôi hiểu cái khoảng cách ấy là tính trên thực địa, chứ Phú Quốc mới có một con đường trục từ thị trấn Dương Đông đến thị trấn An Thới mà khó khăn lắm hai ô tô tải loại vừa mới tránh nhau được, còn đường từ huyện lỵ đến Cửa Cạn, Gành Dầu, Bãi Thơm… thì gần như mới san nền, mưa lầy nắng bụi, ngổn ngang hố ụ. Cha sanh mẹ đẻ cho cái tánh thích xê dịch, ham coi ngó những vùng đất chưa biết, lại thôi thúc tôi đến những nơi ít ai đến. Phú Quốc có đến 99 ngọn núi, hùng vĩ nhất là dải Hàm Ninh kéo dài 14 km, có ngọn Núi Chúa cao nhất đảo, 565 mét so với mặt nước biển. Sao lại 99 ngọn mà không phải 100? Truyền thuyết kể rằng, 50 triệu năm trước, Phú Quốc có đủ 100 ngọn núi, mỗi ngọn do một con chó thuộc giống chó có xoáy trên sống lưng và lông sống lưng chỉa ngược về phía đầu, canh giữ. Tiếc thay, có một con chó sợ độ cao, mà đã là chó Phú Quốc thì chạy trên cheo leo ngàn trượng cũng không ngợp, nên “không hoàn thành trọng trách”, để cho lâm tặc đốn hạ một cây hoàng đàn dã ngàn năm tuổi, làm ông Tạo Hóa giận, dìm luôn ngọn núi ấy xuống biển. Chín mươi chín ngọn núi còn lại đến nay vẫn bạt ngàn xanh 529 loài thực vật bậc cao và chứa trong lòng chúng 151 loài động vật, trong đó có loài chó xoáy gần như độc nhất trên thế giới không sợ độ cao, sinh sôi nẩy nở từ 99 con chó còn lại. Phú Quốc là một hòn đảo chỉ có rừng già nguyên sinh với hai con sông Dương Đông, Cửa Cạn và hàng trăm con suối lớn nhỏ thoát nước mùa mưa, trữ nước mùa khô. Rồi khoảng 350 năm trước, lác đác có con người, con người sinh đẻ nhanh hơn con vật, tinh khôn hơn con thú, đã làm chủ hòn đảo này. Tiếc thay, do chỉ cách đất liền khoảng 25 hải lý (khu vực thị xã Hà Tiên), rồi có sân bay Rạch Giá nửa giờ bay, sân bay Tân Sơn Nhất một giờ bay, nên con người ra Phú Quốc ngày càng đông, phá sạch một phần ba rừng mưa nhiệt đới để trồng cây lương thực, trồng tiêu và làm nhà… May thay Phú Quốc không nằm trong đất liền nên đến giờ vẫn còn 31.422 hecta rừng nguyên sinh thuộc Vườn Quốc gia và 6.122 hecta rừng vùng đệm, tức là hòn đảo này đang giữ được gần hai phần ba diện tích rừng, rừng đúng nghĩa chứ không như ở các tỉnh Tây Nguyên, Tây Bắc, rừng chồi tái sinh lác đác vẫn được báo cáo trăm phần trăm nguyên trạng như đất trời sanh ra! Quả thật là quá muộn, vì nghe nói đến cuối năm 2007, rừng Phú Quốc mới được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới!

Suối Tranh


Không biết có ai yêu rừng như tôi, yêu rừng còn bởi ơn rừng. Mở mắt chào đời tôi đã ngước lên chiêm bái dãy Trường Sơn chỉ cách đồng bằng Quảng Trị “một khâu rựa”, theo cách đo đường của đồng bào dân tộc Vân Kiều, nghĩa là chỉ một buổi lội bộ. Không rừng thì quê tôi không có nước để cấy lúa, không có nước uống trong mùa gió lào 40 - 43 độ nóng. Rồi những năm lội dọc Trường Sơn trong cuộc chiến tranh giữ nước vừa qua, nếu không rừng, tôi và đồng đội không thể qua được những cơn đói quay đói quắt nhờ môn thục, cua đá; không có rừng thì không giữ được mạng sống vì bom đạn đối phương ùng oằng tùng chiu suốt ngày đêm. Tôi ơn rừng còn bởi rừng che chở cho tình yêu của em dọc dài Trường Sơn để ngày hòa bình nên vợ nên chồng… Tình rừng đưa tôi đến với Phú Quốc nên từ chối mọi tour du lịch, trước hết tìm đến suối Đá Ngọn, một con suối rất ít dấu chân người, khuất lấp dưới những tầng cây trải dài từ hai ngọn núi cách Dương Đông mươi cây số ngoài, bởi tôi nghe một người quen ở đảo vào Sài Gòn kể rằng, chính ở dòng suối này, một thanh niên Thanh Hóa nhập cư Phú Quốc “bất hợp pháp” bắt được con ba ba 25 kg, vác ra nhà hàng thị trấn bán 2 triệu đồng làm món nhậu, kiểm lâm phát hiện, phạt 3 triệu đồng, trục xuất về đất liền. Ai đó nói ngày xưa Phú Quốc có cọp, có voi cũng có cái lý của họ, dù không chính xác, nhưng đến bây giờ Phú Quốc còn những con ba ba vài chục ký lô, những con trăn, con rắn lớn đến “thành tinh”, chứng tỏ môi trường sinh thái nơi đây còn khá nguyên vẹn. Bằng chứng là suốt chiều dài mười mấy km ngược suối Đá Ngọn, cảnh quan đẹp đến mê hồn với chồi biếc đan vòm trên những cây cổ thụ; xen tiếng chim họa mi như giọng nữ cao sang trọng là tiếng cúc cu xao lòng nỗi nhớ cố hương, là tiếng chim “khó khăn khắc phục” hay “bắt cô trói cột”, tiếng tắc kè “sáp hè sáp hè” hay “sắp về sắp về” da diết chẳng khác giữa Trường Sơn đại ngàn những tháng năm chưa nhiều bom đạn. Không còn rừng nguyên sinh không bao giờ có những âm thanh ấy, không bao giờ có dòng nước đầu mùa mưa mà tung bọt xuống những vũng xanh ngời sáng da con gái lén đám lính trận chúng tôi tắm truồng như thưở nào Trường Sơn…

Tôi tìm về Cửa Cạn theo hướng hương hoa tràm nồng ấm lan tỏa hai mươi mấy cây số xa khi lắc rắc mưa. Tìm hương tràm lại được gặp cái màu tím hoa sim mỏng tang mà thủy chung, từng neo vào lòng tôi trên “Cung đường Đỏ” A Lưới, A Sầu về Huế; Hải Lâm, Triệu Thượng về thành cổ Quảng Trị những chiều chiến tranh thấp thỏm trinh sát chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968…Hằng trăm hecta tràm gió, loại tràm làm ra tinh dầu chữa bá bệnh, những vạt sim quả mọng tím môi người cái vị chát chua ngọt bùi rồi đây sẽ nhường chỗ cho những sân golf xanh màu xanh giả tạo với những bãi cỏ tỉa tót, những hồ nước bé tẹo… Đang mùa sim tím… Em nhắc tôi… Không phải nhắc đến loại rượu sim nổi tiếng mấy năm nay mà chỉ Phú Quốc mới có, mà là mùa hoa sim tím đảo vào đầu mùa mưa để oi ả mùa khô giáp Tết ta cho quả. Lạ lùng thế Phú Quốc ơi, sao không như ở miền Trung, hoa sim tím vào cuối xuân để cuối hè sang thu cho quả mọng? Vì sao hằng trăm hòn đảo của tổ quốc mà chỉ Phú Quốc mới có nhiều sim?

Tôi tìm về Cửa Cạn bởi văng vẳng tiếng sủa đanh gọn của giống chó Phú Quốc mà một anh bạn trí thức là nhà nhiếp ảnh nghệ thuật của Sài Gòn những năm đầu thập niên 70 thế kỷ trước, hòa bình cưới một cô giáo Việt Cộng, cả hai chán nản nhân tình thế thái, kéo nhau ra Phú Quốc, nuôi để kiếm sống. Có thể nói anh yêu chó, mà phải là chó Phú Quốc, không thua gì tôi yêu rừng. Nhà anh tạm bợ bên một con rạch đầy vơi theo con nước biển, trong ngoài toàn chó là chó, như anh nói, nuôi để lưu giữ nguồn gene quý hiếm, ai biết chơi và mua đúng giá thì bán. Anh biết nhiều chuyện về giống chó Phú Quốc làm tôi kinh ngạc. Thì ra những nhà quý tộc chuyên chơi chó ở châu Âu, nhất là Pháp và Bỉ, thế kỹ XIX đã xếp chó Phú Quốc vào loại chó săn thỏ, là loại chó nhanh nhẹn nhất, có độ bền sức chạy hơn chó berger Đức, hơn chó digo châu Úc, dù đã được thuần hóa. Thỏ không thể đua tốc độ với chó nhưng biết cách chạy dích dắc, đặc biệt là ngoặt hướng rất đột ngột làm chó vồ trượt, thậm chí gãy chân, nhưng không thể thoát khỏi chó Phú Quốc! Anh lấy cho tôi xem cuốn sách Les Races de Chiens của bá tước Henri de Bylandt - một quý tộc dòng dõi danh tiếng ở Hà Lan, xuất bản tại Brussels năm 1897, là cuốn sách được xem như “bách khoa toàn thư” về các loài chó quý trên thế giới, trong đó khẳng định chó Phú Quốc là loài chó thuần chủng bản địa, chẳng phải là hậu duệ hay lai tạp bất cứ giống chó nào, nhỏ con nhưng săn mồi hay nhất trong các loại chó, dù được nuôi nấng mấy đời, thả vào hoang dã vẫn tự kiếm sống, điều mà các loài chó khác không làm được.

Chó Phú Quốc

Sau khi ở Phú Quốc về, tôi đến trụ sở Hội Nhà báo TP. Hồ Chí Minh nghe Giáo sư Dư Thanh Khiêm, Viện trưởng Viện Giáo dục Woluwe Saint Pierre, Vương quốc Bỉ thuyết trình về chó Phú Quốc dưới “khẩu hiệu” Chó Phú Quốc - niềm tự hào của chúng ta, loài vật mà ông đã nghiên cứu hàng chục năm qua. Ông nói về giống chó quý này có nhiều điều trùng hợp với anh bạn mê chó của tôi. Ông dẫn chứng hai con chó Phú Quốc sinh năm 1892 có lông màu lửa, con đực tên là Mango (Xoài), con cái tên là Banane (Chuối), đem về Pháp khi hai tuổi, được tuyển chọn tham gia triển lãm chó quốc tế ở Anvers, Bỉ trong hai ngày 15 - 16 tháng 7 năm 1894 mà catalogue còn lưu giữ đến ngày nay, được xếp vào một trong những giống chó quý và nổi tiếng nhất thế giới, được tặng huy chương hạng nhất, là huy chương đầu tiên trên đấu trường quốc tế của Việt Nam, được đấu giá mỗi con đến 25.000 quan Bỉ, gấp mấy trăm lần giá các con chó khác cùng dự thi, tính ra giá trị tiền bây giờ là 15 tỷ đồng!

Tôi tin kiến thức về chó Phú Quốc của anh bạn, tin kiến thức về chó Phú Quốc của giáo sư Dư Thanh Khiêm, nên càng tin khi nghe một lão nông ở ấp Cây Thông Trong dưới chân núi Chóp Chài kể rằng, những năm chiến tranh chống Mỹ, vùng này là căn cứ của lực lượng kháng chiến, cả quân, cả dân luôn thiếu thực phẩm nên thường thả chó xoáy vào rừng kiếm “chất tươi” sau khi đã “dặn” chúng săn thỏ, săn mễn hay săn chồn…Thường thì chúng thực hiện y chang mệnh lệnh nhưng cũng có hôm gặp con mồi bự quá, như con nai chẳng hạn, biết không thể tha về được nếu giết chết, cả bầy chó dẫn đầu, chặn đuôi, ngoặt phải, quẹo trái lùa con vật về tận chòi canh rẩy cho chủ làm thịt! Tôi hỏi có còn hậu duệ của đàn chó ấy, lão nông buồn rượi mà rằng, chiến tranh, giặc dã làm con người ly tán, con xoáy cũng tứ tán, bây giờ tìm được con chó Phú Quốc thuần chủng không dễ. Tôi lại hỏi, con xoáy quý như vậy, tại sao trong đất liền, ngay Hà Tiên cũng rất hiếm, lão nông thủng thẳng kể: “Từ nhỏ, qua đã nghe ông nội nói chó xoáy rời Phú Quốc thì khó sống lắm, vì chúng nhớ đảo mà phát bệnh. Mấy ông Tây thực dân muốn đem con xoáy về châu Âu phải mang theo một ít đất và nước Phú Quốc, đất thì để nơi con xoáy nằm, nước thì lâu lâu cho con xoáy uống. Không có đất và nước cố hương, chăm sóc cách mấy con xoáy không chết cũng còi cọc”.

Tôi tin những chuyện mà lão nông kể là có thật, bởi đặc biệt như loài chó xoáy thì con người có quyền “nhân cách hóa” chúng…

Ra Phú Quốc, với tôi không chỉ để hiểu thêm một hòn đảo của tổ quốc mà còn tìm về với kỷ niệm đau buồn hơn bốn năm tù ngục tại đây. Trong đợt 2 cuộc tổng tấn công của Quân Giải phóng Miền Nam vào các thành phố lớn do đối phương kiểm soát, tháng 10/1968, tôi bị sư đoàn Kỵ binh bay số 1 quân lực Hoa Kỳ bắt tại chiến trường Trị - Thiên - Huế. Sau khi tra khảo đủ cách tại thành cổ Quảng Trị, Mang Cá Huế, Non Nước Đà Nẵng, không moi được thông tin bí mật nào, tháng 1/1969, đối phương đày tôi ra Trại giam tù binh Cộng sản Phú Quốc, thường gọi là Nhà lao Cây Dừa, ngay dưới chân núi Đồi Sim, cách cảng An Thới cực nam đảo 5 km. Trại Cây Dừa rộng đến 4 km vuông, chia làm 6 khu, mỗi khu có 4 phân khu, mỗi phân khu có 6 tiểu khu, lúc đông nhất (từ năm 1972), nhốt 42.000 tù binh Quân Giải phóng. Bốn vạn hai ngàn tù binh, tức đủ quân thành lập một quân đoàn, lại toàn là sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ thiện chiến, trung kiên nên đối phương phải tổ chức canh gác rất nghiêm cẩn với 4 tiểu đoàn quân cảnh trực tiếp, một hải đoàn hải quân, một phi đội trực thăng, 2 đại đội pháo 105. Trại giam rộng mênh mông xám lạnh một màu sắt thép, từng phân khu một tua tủa dây kẻm gai 8 lớp, nhiều tầng và chòi canh dày đặc, ban đêm chói lòa đèn pha và tiếng chó gầm gừ, tiếng ngổng khục khạc tuần tra. Cơm gạo hẩm không no với mắm thối, quần áo rách te tua, đòn roi tóe máu… chúng tôi chịu được do lòng tự trọng của người yêu nước, nhưng bắt chúng tôi chào cờ ba sọc, hô “Đả đảo Cộng sản” thì thà chết chứ không bao giờ khuất phục. Hơn 4.000 đồng đội tôi từ khắp mọi miền đất nước đã bị bắn chết vì đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, tức đòi quyền sống tối thiểu của con người; vì vượt ngục; vì bị tra tấn bằng những cực hình như bỏ trong thùng phi bịt kín vừa lăn vừa dộng bằng dùi sắt, nhốt vào chuồng cọp quây bằng thép gai, không ngồi, không nằm được, chỉ khom khom, lại bị nhỏ nước tong tong suốt ngày đêm, mỗi ngày một nắm cơm gạo mục với muối hột, cho đến lúc kiệt sức; bị đóng đinh rỉ sét dài 10 phân xuyên bàn tay, bàn chân găm chặt xuống mặt bàn… Sau này có kẻ bảo đó không phải là tội ác mà vì chiến tranh nên bắt buộc hành động như thế, thì chính kẻ đó hoặc là bào chữa cho chính tội ác của mình, hoặc là mơ hồ, lẫn lộn phải trái. Sau ngày giải phóng miền Nam, do nghề viết báo mà lội khắp miền Nam, lội ra cả nước ngoài, tôi đã gặp một số sĩ quan an ninh quân đội, quân cảnh quân lực Việt Nam Cộng hòa đã khảo tra tôi ở Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng; ở Trung tâm thẩm vấn Việt - Mỹ tại đường Tô Hiến Thành; ở Trung tâm thẩm vấn CIA tại Bến Bạch Đằng (Sài Gòn), tôi không còn hận thù họ, nhưng họ lại sợ tôi trả thù… Đó cũng là hậu quả của chiến tranh, nó dai dẳng như là chất độc màu da cam ngấm vào cơ thể, truyền từ đời này sang đời khác! Đau đớn thế thế hệ chúng tôi!

Trại tù binh Phú Quốc là một chứng tích chiến tranh, đáng lẽ ngay sau ngày giang sơn thu về một mối, phải giữ lại nguyên trạng ít nhất một tiểu khu, tiếc thay không ai làm việc đó, để dân trong đất liền ra, để các đơn vị hải quân, pháo binh bảo vệ đảo giở hết, đào bới hết mọi thứ bán phế liệu. Mãi 10 năm sau, lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, lãnh đạo huyện Phú Quốc mới giật mình mình đã để mất một di tích có một không hai, vội vã phục chế, nhưng lại phục chế quá sơ sài với hai nhà giam, một tháp canh trông hiền lành như chòi giữ rẫy, mấy hàng rào thép gai thấp dưới đầu gối, bị cỏ phủ kín, chỉ có ngôi nhà “lưu niệm” là “hoành tráng” một cách vô duyên với ngói đỏ, tường trắng, với một số hiện vật phục chế sai nguyên mẫu, mà kinh phí đến hơn 7 tỷ đồng!

Tôi đau đáu lật giở tập giấy phô-tô danh sách 42.000 tù binh từ một bản gốc mà ai đó trong chúng tôi, khi vượt ngục hay trao trả tù binh mang được về đất liền, tìm bạn tù tên Tuấn, một sinh viên Sài Gòn gia đình rất giàu có, đấu tranh quyết liệt với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trong phong trào học sinh - sinh viên, bị bắt đày ra Phú Quốc, vượt ngục, bị lính canh bắn chết ngay ngoài hàng rào. Đã nhiều lần gia đình và người yêu từ Sài Gòn ra thăm, khuyên nhủ chào cờ ba sọc để được bảo lãnh về, Tuấn vẫn kiên quyết theo con đường mình đã chọn là dấn thân vì nền độc lập dân tộc, vì thống nhất đất nước. Tuấn đã tan vào Phú Quốc 35 năm mà giờ đây, đứng ngay nơi bạn ngã xuống, tôi vẫn thấy hình bóng thư sinh mà vô cùng mạnh mẽ của Tuấn… Tôi đau đáu lật giở tập danh sách tù binh tìm Thành, Linh, Khoa, Thiện, Cáp, Đa, Đáng…, những bạn tù bị bắn nát người trong một cuộc đấu tranh đòi thi hành Công ước tù binh Genève 1950… Tôi đau đáu lật giở tập giấy tìm cái tên giả của tôi, tìm số tù mà tôi phải mang suốt hơn 4 năm…

Thế hệ cha anh của tôi chết gần hết, thế hệ tôi đang như tảng nước đá cứ tan dần, thì rồi đây con cháu chúng ta không thể hình dung sự thâm u, hà khắc của nơi giam giữ, khảo tra hàng vạn người yêu nước, nếu khu di tích trại tù binh Cây Dừa cứ mãi “hiền lành” như thế này. Một phần lịch sử của cuộc chiến tranh vệ quốc hầu như không được giữ gìn cẩn thận thì làm sao mong mỏi sẽ là nơi giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ, làm sao nói rằng đây là một bảo tàng chiến tranh để thu hút du khách khi hòn đảo này trở thành thiên đường du lịch?

Cửa Cạn

Ngày 5/10/2004, Chính phủ ban hành Quyết định 178/2004/QĐ-TTg “Phê duyệt Đề án phát triển tổng thể đảo Phú Quốc đển năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020”, trong đó “ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn với giữ gìn cảnh quan và môi trường sinh thái. Tập trung sức xây dựng đảo Phú Quốc thành trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, giao thương quốc tế lớn, hiện đại…, từng bước hình thành một trung tâm du lịch, giao thương mang tầm cỡ khu vực, quốc tế…”. Theo đó, đến năm 2010, hình thành được một số khu du lịch và vui chơi giải trí chất lượng cao, hằng năm thu hút 300 - 350 ngàn khách; đến năm 2020, Phú Quốc trở thành trung tâm du lịch sinh thái phát triển ở trình độ cao nhất nước, ít nhất có vài triệu lượt du khách mỗi năm.

Bãi Trường


Để biến kế hoạch tầm quốc gia này thành hiện thực, có bao nhiêu việc phải làm, trước hết là xây dựng cơ sở hạ tầng mà hiện nay, ngoài một sân bay nhỏ, cũ kỹ, không có hệ thống đèn cho máy bay đáp ban đêm, hằng ngày nhiều nhất có 5 chuyến bay đến, trên dưới 300 hành khách; một con đường trục Dương Đông - An Thới không đủ tiêu chuẩn hai làn xe; một hồ chứa nước mới đủ nước cấp cho cư dân thị trấn Dương Đông; một vài khách sạn và resort dọc theo Bãi Dài, Bãi Thơm. Hết! Phải có đường không, đường thủy, đường bộ, điện, nước, hệ thống xử lý nước thải, rác thải thì mới nói đến các khu du lịch hiện đại với những resort, khách sạn 4-5 sao, 3 sân golf 920 hecta… Chỉ một sân bay, một con đường vòng quanh đảo 4 làn xe 180 km đã mười mấy ngàn tỷ đồng đầu tư, rồi chục con đường nhánh nối với đường trục xuyên đảo, nối các khu du lịch, đặc biệt trước mắt phải có 50 MW điện từ các nhà máy điện trên đảo cũng phải chi nhiều ngàn tỷ đồng, rồi tiến đến kéo điện từ lưới điện quốc gia ra đảo bằng cáp ngầm tốn trên 200 triệu USD; và trong vài năm tới, phải có thêm hồ chứa nước Cửa Cạn, Rạch Cá, Suối Lớn… Tóm lại, theo tính toán sơ bộ, suất đầu tư phục vụ du lịch cho một hecta trên đảo Phú Quốc phải là 1,3 triệu USD, một số tiền mà không kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài thì không thể có đủ. Vậy nhưng hiện nay mới có 121 nhà đầu tư trong và ngoài nước đăng ký đầu tư vào lĩnh vực du lịch với tổng vốn 33.070 tỷ đồng, trong đó 12 dự án được chấp thuận, còn lại phải chờ quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết 16 khu du lịch trên đảo. Còn ba năm nữa đến năm 2010, bấy nhiêu công việc xem ra không thể hoàn thành ngay cả khi có đủ tiền. Điều đáng lo nhất là trước Quyết định 178, hòn đảo này đã làm du lịch không có quy hoạch, đẩy giá đất những nơi “đắc địa” lên 25 - 30 tỷ đồng một hecta, cao hơn những nơi tương tự ở đất liền nhiều lần! Rất nhiều người giàu khắp đất nước, đặc biệt ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đổ ra Phú Quốc kinh doanh đất, kẻ trở thành triệu phú Mỹ kim, kẻ trắng tay, thậm chí vào tù. Cơn “sốt đất” ở Phú Quốc đến nay vẫn chưa hạ nhiệt, nhưng không thể tăng được nữa, cứ nằm im chờ, ngay cả những khu đất đã biết chắc không nằm trong quy hoạch du lịch, thậm chí nằm trong vùng sản xuất nông nghiệp, cứ hoang hóa dần. Sự lãng phí đất đai như thế không biết đến khi nào mới chấm dứt! Hòn đảo hiền hòa, dân tình chất phác, mươi năm trở lại đây đã xuất hiện những cán bộ hư hỏng kiểu như Đỗ Tố, Lê Minh Dũng - chủ tịch, phó chủ tịch huyện bao chiếm, bác chác đất trong các khu quy hoạch du lịch, chia chác đất cho người nhà (đã bị tù trên 10 năm); đã xuất hiện đội ngũ chuyên đeo bám khách du lịch để làm tiền, tỷ như du khách muốn đi từ Dương Đông xuống An Thới 40 km bằng xe 4 chỗ hay 16 chỗ phải trả ít nhất 300 ngàn đồng một người, đi câu mực vài tiếng đồng hồ khi đêm xuống phải chịu giá một ghe nhỏ vài triệu đồng; đã xuất hiện những người bán “đặc sản” mà gói mực khô chỉ có vài con lớn và khô “làm mặt”, bán nước mắm pha nước muối với bột ngọt và phân urea; đã xuất hiện những gã taxi giả bộ không biết đường trong cái thị trấn bé tẹo để “chém” những vị “khách quý” như tôi! Đã… “Thiên đường du lịch” Phú Quốc còn rất lâu mới có và có thể không bao giờ có nếu chính quyền tỉnh Kiên Giang thiếu kiến thức du lịch, nếu những người có trách nhiệm với hòn đảo không biết bảo vệ quyền lợi chính đáng của du khách, nếu tình trạng “ăn xổi” không sớm chấm dứt.

Hàm Ninh


Cái màu tím nao lòng tím trời tím đất của hoa sim ven chân núi Đồi Sim, ven triền núi Cửa Dương nhắc tôi giờ phút chia tay Phú Quốc, giúp tôi thoát ra những ý nghĩ nặng nề về bao điều chưa tốt của hòn đảo đã trở thành một phần cuộc đời tôi. Phải, Phú Quốc không đến nỗi làm anh thất vọng, như Ghiêm nói, nhưng để có một Phú Quốc nguyên sinh trên rừng dưới biển được tô điểm thêm những công trình hiện đại, thật hiện đại thì chắc phải kiên nhẫn chờ, chờ lâu lắm… Mà đã biết chờ đợi tức là biết hy vọng, phải không em?…

Phú Quốc- Sài Gòn, tháng 6-2007

____
Ảnh:
www.metinfo.vn, DiệpMai

Mời đọc thêm: Chiều tím hoa mua? trong blog này.


Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2007

Một ngày ở vịnh Thái Lan

Loạt ảnh minh họa cho bài viết “Dạo chơi nam đảo” của nhà thơ Phù Sa Lộc và tiếp theo chùm ảnh Một góc vườn quốc gia Phú Quốc

Đúng vậy, quần đảo An Thới ở phía đông vịnh Thái Lan. Tuyến tham quan 3 ngày 2 đêm (không tính nhóm đến từ Rạch Giá trước một ngày) được thể hiện trên bản đồ dưới đây.


Một ngày mới bắt đầu từ chân cầu Nguyễn Trung Trực dẫn sang chơ Dương Đông, con hẻm nhỏ ở phía tả ngạn dẫn vào một quán bánh canh chả cá bình dân đông nghẹt khách chỉ vì… ngon.

Ăn sáng xong chúng tôi vòng sang chợ mua kính lặn vì kính của tàu du lịch không được tốt. Một vài tàu còn có đáy kính cho du khách ngắm đáy biển và san hô.

Rời Dương Đông về phía nam theo hướng bãi Trường, con đường bụi đỏ dọc theo bờ biển. Hai người một xe gắn máy. Ở đảo rất sẵn xe, lúc nào, ở đâu và bao nhiêu cũng có, bình quân 100.000 đ đến 120.000 đ hoặc hơn nữa tuỳ theo các điều kiện khác. Xe tay ga xịn cũng có luôn. Mỗi khách sẽ có kèm theo một nón bảo hiểm.

Đến cảng An Thới, chúng tôi thuê tàu ra vịnh. Vượt qua mấy "con kênh" (hải lưu) rồi dừng lại ở hòn Dăm Trong câu cá.



Thiệt là sảng khoái.

Mọi thứ đếu rất tốt: áo phao mới, trời đẹp chỉ hơi ớn là nhiều nhum (cầu gai) quá! Người úp mặt chỉ thấy đầu trong hình là tài công đang bắt nhum.

Nhà thơ Phù Sa Lộc rất “hoành tráng”!

Những người có lặn ngắm san hô (mà đa số là úp mặt nổi bềnh bồng) đều bàng hoàng vì vẻ đẹp huyền ảo của nó.

Tiếc là không chụp ảnh san hô được nên phải mượn của Sài Gòn Phú Quốc một tấm.

Ngắm cảnh từ trên mui tàu rất thú vị.

Có 21 hòn lớn nhỏ rải rác quanh phía nam đảo, đa số có người ở và lớn nhất là hòn Thơm, có cả tàu thuyền ngư dân các nước lân cận vào nghỉ ngơi, mua bán.

Buổi câu thắng lợi với rất nhiều tiếng reo hò hơn là cá, chỉ có bi nhiêu thôi!

Chẳng sao cả, vì biết trước “nghề câu” của chúng tôi nên tàu đã mua theo khi đi ngang các bè hải sản có mặt khắp nơi quanh các hòn.

Kiếm chỗ ăn trưa, chúng tôi lên phía bắc đến giếng Ngự của vua Gia Long. Sau khi hy sinh một viên đội mà giờ đây còn lưu dấu là Mũi Ông Đội...


...Vua Gia Long đã tìm được nước gần đấy. Nước rất trong và ngọt. Vài nhóm khác đến trước đang túm tụm ăn trưa trên các tảng đá trong bóng mát.

Nơi mũi kiếm vua Gia Long (tương truyền rằng) đã khơi nguồn nước.


Không biết không khí bi tráng của thời bôn tẩu ra sao chứ bây giờ thì rác nhiều và bốc mùi quá nên chúng tôi bỏ đi. Tiếp tục lên phía bắc đến bãi Sao. Cùng với bãi Kem cạnh đấy (tên khác: Khem), bãi Sao là một trong 2 bãi cát trắng đẹp nhất Phú Quốc.

Tài công không chịu ngồi chung, họ chia nhau nấu nướng phục vụ chúng tôi, hóa ra các chàng trai này rất nhiều tài.

Ăn trưa thôi: mực luộc, ghẹ luộc, tôm nướng, bào ngư nướng, cá bớp nấu canh...

Ruột nhum chỉ có một tí thịt, nặn mù tạt cay, vắt thêm chanh, trộn đều rồi ngậm...

Uuuuuuuuuuuuuuuuuuuu!

Sướng,

và... sướng!


Chiều, chúng tôi về theo đường Hàm Ninh, nơi nổi tiếng về ghẹ biển và một làng chài lâu đời.

Sau một ngày "vất vả" và ăn uống "hoang dã", tối đến, lại một bữa tiệc thịnh soạn tại Vườn Táo

Phú Quốc là nơi đến để mà ăn! Có ai biết món này là gỏi ốc?

Cá mú chưng
Cơm ghẹ... Chuyện ẩm thực của Phú Quốc phải có một loạt bài viết mới giới thiệu hết được do sự biệt lập của đảo nên văn hóa ẩm thực tại đây có nét rất riêng.

Sáng hôm sau, chúng tôi mới thưởng thức cái yên tĩnh của buổi sáng ở resort. Nơi này ở về phía tây của đảo nên buổi sáng mùa hè biển rất êm.

Chào chợ Dương Đông để trở về,


Tạm biệt Dinh Cậu!

________________________
Ảnh: Phù Sa Lộc, Trịnh Việt Dũng, Phạm Đình Quát, Lê Hoàn, Trần Kim Đính