Hiển thị các bài đăng có nhãn Bàn tròn chuyện nghề du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bàn tròn chuyện nghề du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 29 tháng 2, 2008

Nghèo, lại chẳng khéo co

Hồ Hùng

Trong khuôn khổ tuần lễ khai mạc năm Du lịch quốc gia Mekong - Cần Thơ 2008, Hội thảo “Phát triển du lịch lữ hành ĐBSCL” đã được tổ chức nhằm tìm kiếm ý tưởng để “kéo” thêm du khách về với vùng sông nước này.



Đã thiếu, lại không biết giữ!

Khi những chiếc tàu du lịch còn chưa kịp ghé chợ nổi Cái Răng, du khách đã bị vây bởi một vài chiếc ghe nhỏ, thi nhau “đeo bám” chào mời. Nào là xoài, đu đủ, dưa hấu... khách muốn mua thứ nào cũng được, nhưng giá thì chẳng rẻ chút nào.


Ca tài tử dành cho du khách ở Bến Tre


Thực ra, khi đến điểm du lịch này, không mấy du khách muốn mua hàng kiểu như vậy mà họ muốn được tự do tha hồ nhìn ngắm những loại nông sản được bày bán... Chừng thích món nào thì họ hỏi mua món ấy.

Đó chỉ là một dẫn chứng cho lời than phiền của rất nhiều du khách trong và ngoài nước về tình trạng chèo kéo, đeo bám du khách tại nhiều điểm tham quan du lịch ở ĐBSCL.

Theo ông Đinh Viết Khanh, Giám đốc Sở Du lịch thành phố Cần Thơ, ĐBSCL vốn nghèo nàn về các sản phẩm du lịch, hầu như các tour đều nhắm vào khai thác cảnh quan sông nước, vườn cây ăn trái và làng nghề nên dễ tạo cảm giác trùng lắp, nhàm chán cho du khách. Kể cả phương tiện di chuyển, ở nhiều nơi như Sa Đéc (Đồng Tháp), Châu Đốc, Long Xuyên (An Giang)... chủ yếu cũng do dân địa phương cung cấp, không chuyên nghiệp và thiếu an toàn, nói chi đến chuyện mua bảo hiểm cho phương tiện. Tuy nhiên, đáng lo hơn là lãnh đạo các địa phương cũng tỏ ra thiếu tầm nhìn trong tổ chức khai thác du lịch khiến cho chút lợi thế khác biệt nhỏ nhoi cũng dần mất đi.

Sản phẩm du lịch nghèo nàn nên lượng doanh nghiệp đứng ra khai thác cũng lèo tèo. Ông Vũ Thế Bình, Vụ trưởng Vụ Lữ hành (Tổng cục Du lịch, thuộc Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch), cho biết đến nay cả vùng ĐBSCL mới có... 18 doanh nghiệp lữ hành quốc tế - chiếm 2,8% cả nước. Trong đó, Tiền Giang có nhiều nhất với chín doanh nghiệp, còn Cần Thơ là thành phố lớn nhất vùng nhưng chỉ có... một doanh nghiệp lữ hành quốc tế!

Ông Võ Hùng Dũng, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chi nhánh Cần Thơ, dẫn chứng các điều tra đã được tiến hành ở nhiều địa phương cho thấy mức lưu trú bình quân của du khách ở Lâm Đồng đến 26 ngày, TPHCM là 7,8 ngày, Lào Cai cũng đạt 2,6 ngày... Còn tại Cần Thơ, tuy không có số liệu điều tra nhưng ước đoán chỉ ở mức dưới hai ngày! Các con số tính toán hồi năm 2004 cho thấy, bình quân khách quốc tế lưu trú tại ĐBSCL chỉ vào khoảng 0,85 ngày và tại Cần Thơ là 1,2 ngày. Và lượng khách quốc tế đến ĐBSCL chỉ chiếm 15% so với cả nước.

“Rõ ràng chúng ta mới chỉ có một vài điểm như vẻ đẹp tự nhiên vùng sông nước, các lễ hội và chùa miếu. Còn một loạt cái, chúng ta thiếu và rất thiếu. Chưa nói ngay cả những điểm vừa nói thì cũng mới chỉ ở dạng sơ khai - giống như trưng bày ra đó - còn để làm đẹp thêm thì vẫn chưa biết phải làm sao”, ông Dũng nhận định.

Cần những con người chuyên nghiệp

Theo ông Võ Anh Tài, Giám đốc Công ty Dịch vụ lữ hành Saigontourist, với những lợi thế riêng - dù ít, ĐBSCL vẫn có điều kiện để sáng tạo và tổ chức các loại hình tour lưu trú dài ngày cho du khách trong và ngoài nước khám phá những nét văn hóa sống động của mình. Đó có thể là loại hình homestay kết hợp tham gia công việc đồng áng theo kiểu “một ngày làm nông dân Nam bộ”. Du khách có thể cùng chăm sóc vườn, tham gia tát nước bắt cá, bắt cua... như những nông dân thực thụ. Cũng có thể phát triển các tour du thuyền có nghỉ đêm, kết hợp các sinh hoạt như đi thuyền chèo vào các kênh, rạch hoặc thăm vườn trái cây, nhà dân, làng nghề... trên các cù lao.

Tuy nhiên, để làm được điều đó, ông Tài cho rằng một trong những việc cần làm ngay là phải có chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân sự chuyên nghiệp. Mọi ý tưởng khai thác dịch vụ, đầu tư, marketing... để thu hút khách đều xuất phát từ con người và để biến ý tưởng thành hiện thực cần phải có những người thực hiện chuyên nghiệp. Còn như hiện nay, theo lời ông Khanh: “Lực lượng làm du lịch chưa tới 50% học qua trường lớp”. Và điều quan trọng, theo ông Dũng: “Cần lưu ý rằng, hình ảnh, lợi ích và sự dị biệt hóa phải là sự cảm nhận của du khách, chứ không phải của các quan chức hay các nhà quảng bá du lịch”.

Mới đây, Bộ Nội vụ đã chính thức có quyết định cho phép thành lập Hiệp hội Du lịch ĐBSCL, nhằm đảm nhận các công việc như quảng bá cho ngành du lịch và xây dựng hình ảnh chung của vùng ĐBSCL, đào tạo và huấn luyện cán bộ, phối hợp hoạt động giữa các địa phương... Tuy vậy, vẫn khó đặt hết sự kỳ vọng vào ban chấp hành hiệp hội nếu như đó vẫn là những con người thiếu chuyên nghiệp!



Bài đã đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn
Số : 10-2008 (898) - Ngày : 28-2-2008

Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2008

Xúc tiến du lịch cho vùng ĐBSCL

Phan Huê (*)


Là một vùng đất rộng lớn, nổi tiếng với những vườn cây trái trĩu quả, kinh rạch phủ bóng dừa nước và các chợ nổi nhộn nhịp trên sông. Tuy vậy hiện nay các hãng lữ hành mới coi ĐBSCL là điểm đến phụ dành cho khách nước ngoài, với các tour phổ biến từ 1 đến 2 ngày (đi Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ).

Có thể nói vùng đất Chín Rồng không mạnh về du lịch biển (ngoại trừ đảo Phú Quốc), hay kiến trúc cổ như Huế, Hội An, Hà Nội, nhưng đứng về lọai hình du lịch sông nước miệt vườn thì ĐBSCL hầu như không có đối thủ cả trong nước lẫn các nước trong khối Asian.

Mấy năm gần đây, trong khi ngành du lịch cả nước đang phát triển nóng, nhu cầu về khách sạn cao cấp ở Hà Nội, TPHCM, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang không đủ phục vụ khách, nhưng nhiều tỉnh ĐBSCL vẫn chỉ đón được vài ngàn khách nước ngòai một năm.

Có nhiều lý do để giải thích chuyện thiếu khách, như hạ tầng yếu, dịch vụ manh mún, sản phẩm trùng lắp… nhưng chính công tác xúc tiến chưa tốt cũng làm cho du lịch ĐBSCL ít khách.

Trước hết để biết được khách hàng mục tiêu thích mua tour sông nước là ai thì phải có các cuộc thăm dò, nghiên cứu thị trường. Tuy nhiên cho đến bây giờ hầu như chưa có cơ quan nào làm cái công việc sơ khai này. Các tỉnh đều nói du lịch miệt vườn rất hấp dẫn, nhưng cụ thể hấp dẫn đối tượng khách nào thì không ai biết. Vì vậy việc tiếp thị sản phẩm chỉ là “dàn hàng ngang” chứ không có thị trường mục tiêu. Xét về tâm lý chung của việc đi du lịch là “tìm sự khác biệt”, thì rõ ràng ĐBSCL rất khó trở thành điểm đến lý tưởng (highlight) của khách Việt Nam - những cư dân nông nghiệp đã quá quen với cảnh ruộng, vườn, nhưng có thể rất hấp dẫn đối với khách châu Âu vốn dĩ lâu nay chỉ thấy các cánh đồng lúa mì.

Tiếp đến là việc xây dựng sản phẩm riêng biệt ở từng tỉnh, để tránh trùng lắp và tạo thành tuyến điểm liên hòan giúp kéo dài thời gian lưu trú của khách, cũng chưa làm được. Hiện tượng khách “đến Tiền Giang đã thấy Sóc Trăng”, là khá phổ biến vì đi tỉnh nào cũng chỉ có nhà vườn, nghe ca tài tử, ăn trái cây hái sẵn chứ ít có họat động cho khách tham gia hoặc trải nghiệm. Các khu nghỉ dưỡng bên bờ sông hầu như chưa có, ngoại trừ một khách sạn Victoria ở Cần Thơ.


Công việc tiếp thị điểm đến (destination marketing) và quảng bá sản phẩm du lịch thường xuyên hoặc thông qua các sự kiện (events) được triển khai rất ít, kém hiệu quả. Tại các hội chợ du lịch quốc tế và trong nước (như ITE do TPHCM tổ chức), các tour du lịch ĐBSCL chỉ xuất hiện như một phần nhỏ trong những chương trình du lịch xuyên Việt, nên không tạo được ấn tượng đến các hãng lữ hành. Những ấn phẩm về tuyến điểm du lịch ở vùng sông nước này được xuất bản có lẽ phù hợp với khách VN hơn là khách nước ngòai.

Các sự kiện du lịch của ĐBSCL, như Mekong festival hay “Năm du lịch Miệt vườn sông nước” (sắp khai mạc) thường có rất ít nhà điều hành tour khách nhập (inbound) tham dự. Nếu coi đây là lễ hội phục vụ người dân địa phương thì chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội quảng bá đến khách nước ngoài.

Việc tìm thông tin qua mạng internet hiện nay là khá phổ biến, nhưng ĐBSCL vẫn thiếu các trang web chuyên sâu về du lịch, hoặc nếu có cũng ít được cập nhật thường xuyên.

Các nhà quản lý và các đơn vị kinh doanh du lịch trong vùng đã từng đi khảo sát nhiều nước lân cận. Nếu Thái Lan cho chúng ta thấy kinh rạch của họ được bao bằng bờ xi măng nên kém hấp dẫn, và chợ nổi le hoe mấy chiếc xuồng bán đồ lưu niệm nhưng họ vẫn có khách tham quan đông hơn chợ nổi Phong Điền nhiều lần. Phải chăng vì Thái Lan tiếp thị giỏi? Nếu nói về dừa thì Trà Vinh hay Bến Tre đi đâu cũng gặp, nhưng chúng ta chưa có được khu du lịch nào như kiểu vườn dừa Escodero rộng 40 hecta ở ngoại ô Manila (Philipines) để cho khách lưu trú. Vấn đề của của ngành du lịch Miền Tây không phải thiếu tài nguyên du lịch, mà chính là chúng ta đang thiếu các sản phẩm phù hợp với “cái khách cần” và một chiến lược quảng bá chuyên nghiệp.

Có lẽ không nên chỉ quẩn quanh giới thiệu tour tuyến Đồng Bằng với những ai đã biết vùng này. Ngành du lịch Miền Tây nên mạnh dạn xây dựng các sản phẩm phù hợp với khách nước ngoài, rồi đem các tour này ra quảng bá tại các hội chợ du lịch quốc tế và mời các nhà điều hành tour đến khảo sát. Bên cạnh đó cần khuyến khích các công ty du lịch nước ngoài mở văn phòng đại diện tại Cần Thơ và lập các cơ sở kinh doanh du lịch như kiểu nhà hàng Sao Hôm (bến Ninh Kiều) hay du thuyền Bassac. Vì nếu giả sử chúng ta coi khách Âu- Mỹ là khách hàng mục tiêu, thì các công ty có nguồn gốc từ những nước này luôn biết cách xây dựng được sản phẩm hợp gu dân xứ họ nhất.

Hy vọng trong tương lai gần, du lịch xanh sẽ đem lại một thế mạnh mới cho người dân Đồng Bằng bên cạnh lúa gạo, tôm cá và trái cây ./.

___________________________________________

(*) Giám đốc Cty Dịch vụ- Du lịch Vòng Tròn Việt, TPHCM
và là Giảng viên Trường Đại học Cửu Long

URL:http://www.mekongdelta.com.vn/mekongdelta/news.asp?cate_Id=62&news_id=1264&sub_id=62

Ảnh: Bến Ninh Kiều (Cần Thơ) sáng mồng 2 Tết Mậu Tý
www.metinfo.vn


Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2008

Một số sự kiện chính của du lịch Việt Nam 2008

Sau khi công bố “Mười sự kiện tiêu biểu của du lịch Việt Nam năm 2007” rồi kế tiếp là “Mười sự kiện nổi bật trong lĩnh vực Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2007” (mà một số người cho rằng thiếu sự kiện thứ 11 là bản thân bản liệt kê này !) thì Tổng cục Du lịch đã tổ chức họp báo thông báo một số sự kiện chính của du lịch Việt Nam sẽ diễn ra vào năm 2008.




1. Năm du lch mit vườn - Mekong delta
Sự
kin có tính chủ đạo, xuyên sut v du lch ca năm 2008; đó là Năm du lch quc gia 2008 vi ch đề “Du lch mit vườn sông nước Cu Long”.

2. Chương trình du lch v ci ngun năm 2008
m 2008 là năm th 4 mà ba tnh Phú Th, Yên Bái và Lào Cai phi hp t chc chương trình “Du lch v ci ngun”.

3. Festival Huế 2008
Hướng về chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”, Festival Huế 2008 là một lễ hội có quy mô lớn, đầy ấn tượng và hấp dẫn bao gồm hàng trăm chương trình văn hóa, du lịch đặc sắc, nhằm tôn vinh những giá trị văn hóa độc đáo của Việt Nam nói chung và Cố đô Huế nói riêng.


4. Tiếp tục vận động bầu chọn để vịnh Hạ Long trở thành kỳ quan thiên nhiên thế giới

Năm 2008, Tổng cục Du lịch sẽ tiếp tục chương trình vận động bầu chọn để vịnh Hạ Long trở thành một trong top 7 của các Kỳ quan thiên nhiên thế giới.

5. Bắn pháo hoa quốc tế
Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ (văn bản 6824/VPCP-VX, ngày 6/11/2007 của Văn phòng Chính phủ); trong năm 2008, Đà Nẵng sẽ tổ chức thi bắn pháo hoa quốc tế.

6. Thi hoa hậu du lịch 2008
Cuộc thi “Hoa hậu Du lịch Việt Nam năm 2008” do Công ty Cổ phần quảng cáo phim Á Châu, Công ty quảng cáo D&D, Xí nghiệp Vận chuyển Xuyên Á phối hợp cùng Tổng cục Du lịch lần đầu tiên tổ chức, bắt đầu tuyển sinh trên toàn quốc từ ngày 5/12/2007 - 30/3/2008.

7. Hoa hậu hoàn vũ quốc tế
Cuộc thi hoa hậu Hoàn vũ là cuộc thi sắc đẹp thế giới danh tiếng nhất hiện nay. Quy mô cuộc thi mang tính kết hợp và toàn cầu. Vào tháng 7/2008, sẽ có trên 100 thí sinh đại diện cho phái đẹp từ các quốc gia trên thế giới sẽ đến Tp. Nha Trang của Việt Nam tham gia cuộc thi tài năng và sắc đẹp.

8. Đẩy mạnh quảng bá du lịch Việt Nam ở trong nước và nước ngoài
Để khai thác tiềm năng và lợi thế nhằm tiếp tục phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thực hiện Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2006 - 2010, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch Việt Nam trong năm 2008 sẽ tập trung vào các nội dung chủ yếu:

- Phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo đài trong cả nước tiếp tục quảng bá những tiềm năng du lịch.

- Sử dụng các hình thức thích hợp để quảng bá du lịch Việt Nam - vẻ đẹp tiềm ẩn đến các thị trường du lịch các nước. Mở rộng thị trường thông qua quan hệ với báo chí quốc tế, tổ chức các đoàn famtrip và presstrip nước ngoài quảng bá du lịch Việt Nam.

- Tiếp tục mở rộng thị phần tại các thị trường truyền thống thông qua việc duy trì sự tham gia một cách chuyên nghiệp và hiệu quả của du lịch Việt Nam tại các triển lãm, hội chợ du lịch quốc tế truyền thống.

- Phối hợp tốt với các Bộ, Ngành địa phương trong việc tham gia hoặc cung cấp ấn phẩm quảng bá du lịch Việt Nam.

9. Diễn đàn du lịch các nước ASEAN và Travex 2009
Diễn đàn du lịch các nước ASEAN (ATF) là sự kiện thường niên về du lịch có uy tín và quy mô lớn nhất trong khu vực.

Tại ATF Bangkok Thái Lan (tháng giêng 2008), Việt Nam sẽ tiếp nhận chuyển giao là nước chủ nhà ATF và Travex 2009.

(Nguồn: Tổng cục Du lịch)


Cảm giác chung của việc tổng kết năm cũ và công bố dự định năm mới cho thấy các nhà quản lý (du lịch) vẫn chưa phân biệt được đâu là sự kiện đáng ghi nhận, đâu là trách nhiệm, công việc phải làm... Chỉ thấy “hay hay” là gom về kể công. Đó là chưa nói đến sự đánh giá trái ngược nhau giữa một bên là dư luận xã hội (du khách) và một bên là nhà quản lý (Tổng Cục Du lịch) hay nói cách khác là sự đánh giá lấy được bất chấp thực tế diễn ra (Festival Hoa tại Đà Lạt là một ví dụ dễ thấy).

Một kế hoạch cụ thể, chi tiết và chắc chắn để có thể xây dựng chương trình và chào bán tour phải có trước sự kiện ít nhất 12 tháng là mơ ước không tưởng của các công ty lữ hành (trừ Festival Huế đã trở nên chuyên nghiệp và… do người nước ngoài chủ xị). Rồi như mọi khi, họ chạy loanh quanh vì không biết ai, ở đâu giúp cho họ thông tin mãi cho đến… ngày khai mạc thì họ lại bị trách là không biết khai thác sự kiện!

Hơn 3/4 du khách không quay lại là bức xúc lớn nhất không thấy làm cho ra lẽ và lạ thay không ai chịu trách nhiệm cả!


Kiều Nương
_

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2008

Thiếu khách sạn, lỗi do đâu?

(TBKTSG Online)- Vài năm trở lại đây, hai "anh em" lữ hành-khách sạn của du lịch thường "cơm không lành, canh không ngọt". Nguyên do chỉ vì dịch vụ lữ hành phải "đỏ mắt" tìm khách sạn, nhất là phòng tiêu chuẩn 3-5 sao để phục vụ du khách.

Click vào hình để xem tiếp bản tin



http://www.thesaigontimes.vn/Home/vanhoadulich/dulich/2771/

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2008

NƯỚC ĐÃ ĐẾN CHÂN!

Ngành du lịch ĐBSCL sẽ có cơ hội có một không hai để tự quảng bá khi vùng này được chọn tổ chức sự kiện năm Du lịch Quốc gia Mekong- Cần Thơ 2008 với chủ đề “Miệt vườn sông nước Cửu Long”. Chỉ còn khoảng hai tháng nữa là đến ngày khai mạc (21- 2- 2008), nhưng không khí tại địa phương “chủ nhà”- thành phố Cần Thơ, vẫn cứ ung dung, đủng đỉnh.


Hồ Hùng

• Chờ đủ thứ!

Đã giữa tháng 12, nhưng đơn vị thi công cầu Cái Sơn (phường An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ) dọn sạch phương tiện thi công, để lại hai bên bờ sông những đống cát đá, trụ bê tông ngổn ngang. “Họ nói đang… chờ UBND thành phố duyệt nâng giá công trình do vật liệu xây dựng đã tăng vọt, nên tranh thủ thi công nơi khác. Chẳng biết khi nào cây cầu này hoàn thành nữa!”, ông Nguyễn Văn Hồng, nhà sát chân cầu cho biết.
Đây là chiếc cầu thông thương tuyến lộ Vòng Cung, dẫn từ nội ô Cần Thơ đến vườn Du lịch Mỹ Khánh, nơi được chọn để tổ chức lễ hội “Trái ngon miền Tây Nam bộ” vào đầu tháng 5- 2008. Và suốt tuyến đường này, còn có thêm sáu chiếc cầu khác cũng rơi vào tình trạng thi công dở dở ương ương như vậy.

Giá như chi phí thực hiện những banner này chuyển thẳng cho Cần Thơ thì “không khí” sẽ có hồn hơn chứ không đơn điệu như vầy. Mặt khác một số quy chế về quảng cáo cần có sự điều chính riêng cho lễ hội vì chỉ được phép treo không quá 15 ngày thì quá ít.


Theo dự kiến, sẽ có hơn 60 lễ hội được tổ chức tại Cần Thơ và các tỉnh vùng ĐBSCL trong năm Du lịch Quốc gia Mekong- Cần Thơ 2008. Nhưng để du khách đến với nơi này, hứa hẹn sẽ…đầy cam go vì sự thiếu phối hợp giữa ngành giao thông và du lịch. Như cầu Cần Thơ, sau sự cố sập cầu dẫn- theo ông Nguyễn Ngọc Đông, Vụ phó Vụ KH- ĐT (Bộ GT- VT): “Sớm nhất là cuối năm 2008 mới có khả năng thông cầu”. Còn sân bay Cần Thơ, ông Đông cho rằng với tiến độ hiện nay, khả năng sẽ thi công hoàn thành vào tháng 8 hoặc tháng 9- 2008. “Nhưng để đưa vào khai thác cần phải xem lại về thời gian”, ông nói.
Như vậy, du khách đến với năm Du lịch Quốc gia 2008 chỉ có hai lựa chọn, hoặc đi theo tuyến đường thủy, hay chọn cách “truyền thống” là ngồi xe theo tuyến đường “độc đạo” quốc lộ 1A! Tuy nhiên, đoạn quốc lộ 1A từ cầu Mỹ Thuận đến Cần Thơ, theo ông Đông có khả năng khởi công nâng cấp ngay sau Tết Nguyên đán tới và chỉ hoàn thành sớm nhất sau một năm, nên cũng hứa hẹn tạo nhiều nút “thắt cổ chai”, những đống ngổn ngang, bụi mờ mịt… gây ách tắc các phương tiện giao thông trong năm 2008. Ngoài ra, một số dự án đang thi công tại quốc lộ 80, 54, 61… nối liền một số tỉnh ở ĐBSCL cũng có khả năng chỉ hoàn thành vào năm 2009!
Đáng lo nhất là mới đây, tại hội nghị sơ kết công tác chuẩn bị năm Du lịch Quốc gia, ông Đinh Viết Khanh, Giám đốc Sở Du lịch thành phố Cần Thơ cho biết, ngân sách Trung ương sẽ không hỗ trợ một đồng nào cho kinh phí tổ chức, thay vì mười tỷ đồng như dự kiến trước đây. Riêng phần vận động tài trợ, hiện Ban tổ chức cũng mới “nắm chắc” 4,4 tỷ đồng trong tổng con số dự kiến mười tỷ đồng. Như vậy, trong tổng kinh phí 30 tỷ đồng cho năm Du lịch Quốc gia, hiện Ban tổ chức mới chuẩn bị được gần một nửa!

Quyết tâm cũng thiếu

“Thái Nguyên trước đây thậm chí không có tên trong bản đồ du lịch, nhưng đến khi tổ chức năm Du lịch Quốc gia năm 2007, lượng khách quốc tế dự kiến đạt đến 26.000 người- tăng hơn gấp đôi so với năm trước. Hay như sau khi Quảng Nam được chọn tổ chức vào năm 2006, miền Trung đã phát triển du lịch rất mạnh, nhất là tại các tỉnh ven biển như Khánh Hòa, Quảng Nam,..”, ông Phạm Hữu Minh, Cục trưởng Cục Xúc tiến Du lịch (Tổng cục Du lịch Việt Nam) khẳng định.
Nhưng năm 2008, dường như địa phương “chủ nhà” lại chưa mấy hân hoan chào đón sự kiện này. Giám đốc một khách sạn lớn ở Cần Thơ bức xúc: “Đúng ra, phải hướng đến sự kiện này vào hai năm trước. Nhưng đến giờ, thậm chí nhiều chủ quán ăn, khu vui chơi, chủ khách sạn nhỏ… cũng chưa biết Cần Thơ sẽ tổ chức!”. Đến ngày 22- 5- 2007, UBND thành phố Cần Thơ mới có Quyết định thành lập Ban chỉ đạo và đến những ngày cuối năm, vẫn chưa thấy các băng rôn, tờ bướm…để quảng bá sự kiện này ngay tại nội ô thành phố. Trong khi đó theo ông Minh, sự đồng thuận, am hiểu và cộng tác của người dân là yếu tố quan trọng để tổ chức sự kiện này thành công.
“Đúng là không khí năm Du lịch chưa có! Và tôi rất lo vì đến giờ kịch bản đêm khai mạc vẫn chưa được duyệt thì làm sao tính đến chuyện tập dượt… để đảm bảo thành công”, ông Lê Thanh Quý, Giám đốc khách sạn Sài Gòn- Cần Thơ bồn chồn. Còn Giám đốc một doanh nghiệp kinh doanh du lịch khác, cho rằng nếu như có sự hợp tác mạnh giữa các địa phương vùng ĐBSCL và sự khẩn trương ngay từ đầu của nhiều quan chức tại Cần Thơ, có lẽ đã không phát sinh chuyện “nước đã đến chân” như bây giờ. Và sự gượng gạo để chữa cháy càng thể hiện rõ, khi danh sách 17 doanh nghiệp đạt danh hiệu “Uy tín thương mại” và “Sản phẩm uy tín thương mại” được Sở Du lịch công bố, không đạt được sự đồng thuận cao trong các doanh nghiệp ngành du lịch. Theo họ, có một số quán ăn, sản phẩm mà nhiều người ngay tại Cần Thơ còn chưa biết đến… thì làm sao được chọn để phục vụ năm Du lịch, quảng bá hình ảnh du lịch Cần Thơ?
Ông Khanh cũng thừa nhận, việc đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự kiện này đúng là còn chậm, nhất là xung quanh khu vòng xoay cồn Cái Khế- nơi tổ chức đêm khai mạc. Theo tính toán của Sở Du lịch, sẽ có 15.000- 20.000 người từ các nơi đổ về để dự đêm khai mạc- chưa kể lượng khách đến dự nhiều sự kiện khác trong năm. Và khi đó, theo ông Qúy, tình trạng “cháy” phòng sẽ diễn ra mà đến giờ vẫn chưa thấy Ban tổ chức đưa ra phương án giải quyết hợp lý. “Nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến Cần Thơ theo thông lệ cũng đã gây tình trạng “cháy” phòng ở nhiều khách sạn tại Cần Thơ trong suốt tháng 11 vừa qua”, ông dẫn chứng. Hiện tại, thành phố Cần Thơ chỉ có 129 cơ sở lưu trú du lịch với 3.152 phòng và 5.179 giường, trong đó chỉ có 25 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1- 4 sao./.

_________
Bài đã đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Số : 2-2008 (890) - Ngày : 3-1-2008
http://www.saigontimes.com.vn/tbktsg/detail.asp?muc=76&Sobao=890&sott=27


_

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2007

Tìm gì ở du lịch Miền Tây Nam Bộ?


Nguyên Ngọc

Tại hội thảo Xóa đói giảm nghèo với du lịch cộng đồng (do Bộ Văn hóa - thể thao & du lịch và UBND tỉnh Vĩnh Long tổ chức tại Vĩnh Long ngày 26-10-2007) nhà văn Nguyên Ngọc có bài tham luận mà báo Tuổi Trẻ đã trích đăng dưới tiêu đề: “Du lịch bao giờ cũng là văn hóa”. Được phép của nhà văn, Mblog đăng nguyên văn dưới đây:


Trước hết xin cho tôi được nói đôi kỷ niệm nhỏ và mấy cảm nghĩ. Tôi rất yêu vùng đất Nam Bộ, đặc biệt Miền Tây, theo tôi là một trong những xứ đất và người kỳ thú nhất ở nước ta. Có một thời gian gặp khó khăn trong đời sống và công việc, tôi đã lang thang dưới này mấy năm và có một số bạn đã trở thành thân thiết, hồi ấy các bạn trẻ thường đùa bảo tôi “nếu chú cần “cư trú chính trị” thì cứ vô đây bọn cháu nuôi”. Miền Tây đương nhiên cũng như mọi miền đất khác, là thiên nhiên và con người, và thiên nhiên cùng con người ở đây thì quả thật rất độc đáo, con người hồn hậu mà mạnh mẽ và phóng khoáng như thiên nhiên, tự do và nghệ sĩ tận trong đáy tâm hồn. Hình như trên thế giới các vùng miền nam đều vậy, miền nam nước Pháp, ai từng đọc Tartarin de Tarascon của Anphonse Daudet đều biết, lãng tử, phiêu lưu, tự do, hơi khoát lác rất đáng yêu kiểu bác Ba Phi. Miền nam của châu Mỹ cũng vậy, với Cuba, Brasil, Chilê … thật lạ, hiện đại mà cổ xưa, tự do và phóng đạt, hoành tráng và nồng cháy. Các vùng cực nam càng đặc biệt. Miền Tây là cực nam của đất nước, của Nam Bộ. Tôi có biết một câu ca dao hẳn do một anh chàng lãng tử Miền Tây nào đó cao hứng ứng tác để tự nói về chính mình: “Ra đường thấy vịt cũng lùa, thấy duyên cũng bén, thấy chùa cũng tu!”. Có lẽ đấy chính là tâm hồn con người Miền Tây. Ở miền Bắc chặt chẽ nề nếp, ở miền Trung cần cù và khắc nghiệt chắc chắn không thể có thế, chỉ Nam Bộ, chỉ Miền Tây mới được vậy. Hồn nhiên và tự do đến thế là cùng, gặp chùa ta ghé vào tu cái chơi, rồi vừa từ chùa bước ra, đầu chưa kịp chớm tóc, đụng duyên liền cứ bén bừa, tội gì để uổng của đời, còn vịt của ai đó giữa đường thì cứ coi là vịt của đất trời, tiện tay lùa luôn có sao đâu! … Tôi nhớ những chuyến đi về Rạch Gốc, ngày ấy tàu đò từ Năm Căn xuôi rạch Gốc lang thang mất hơn nửa ngày đường, thiên nhiên hoang sơ và nguyên vẹn, con người thì, theo con mắt kinh ngạc của tôi, kết hợp một cách lạ lùng giữa văn minh và hoang dã, một sự kết hợp thật tài tình, hài hoà, mà dễ dàng, tự nhiên như không. Tôi cũng từng lang thang hơn nửa tháng trời trên gần trăm hòn đảo có người và không người của huyện đảo Kiên Hải, nơi còn dày đặc dấu vết cuộc đào tẩu của Gia Long trên con đường theo đuổi sự nghiệp thống nhất quốc gia khó nhọc của ông, dẫn theo không biết mấy bà phi và không ít bà đã bỏ mình lại giữa chốn biển khơi này, nay còn rải rác những miếu thờ trên một số hoang đảo ấy. Không biết bây giờ ở đấy có ai là hậu duệ của các bà phi ấy không mà, ai từng đến đấy đều có thể nhận ra ngay, con gái “hòn” (ở đấy người ta gọi đảo là “hòn”) rất đẹp! … Thôi, tôi đành phải dừng lại thôi, kỷ niệm cứ ùa về, tràn đầy… Tôi yêu và mê Miền Tây như vậy, nhưng chưa bao giờ dám nghĩ đến chuyện viết về miền đất và người ở đấy, trừ đôi bút ký nhỏ và rụt rè, bởi tôi biết tôi sẽ không bao giờ có thể nắm bắt được cho thật đúng cái hơi thở nồng đậm có một không hai, không bao giờ nói được cho thấu về đất đai, sông nước và con người ở đây, từ hình dáng, tâm tình, suy nghĩ, tính cách … cho đến ngôn ngữ giàu có đến kỳ lạ của họ. Không bao giờ tôi có được khả năng phả vào trang văn của mình một “hương rừng Cà Mau”, không bao giờ theo được Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Ngô Khắc Tài…, và đặc biệt phát hiện quan trọng của văn học ta mấy năm nay: Nguyễn Ngọc Tư. Nhân đây tôi muốn nói qua đôi chút về tác phẩm đặc sắc “Cánh đồng bất tận” của cô gái đầy tài năng bất ngờ này. Tôi nghĩ, nếu đem văn học ta ra “nói chuyện” với thế giới bây giờ, thì với “Cánh đồng bất tận” ta chẳng phải sợ bất cứ ai hết, thật vậy đấy. Theo tôi, “Cánh đồng bất tận” là tác phẩm rất quan trọng để hiểu Miền Tây (tất nhiên không phải chỉ hiểu Miền Tây, mà hiểu con người và cuộc đời; nhưng ở đây là ta đang nói chuyện Miền Tây). Nó cho thấy rằng trong những con người trông chừng rất lầm lũi, đến mức gần như hoàn toàn hoang dã, hoang dại ấy, lại chất chứa cả một thế giới đời sống nội tâm sâu thẳm, phong phú, phức tạp và đẹp đẽ biết dường nào, đẹp đẽ hiểu theo nghĩa là con người với tất cả những hạnh phúc và đau khổ, ước vọng cùng tình yêu thống thiết, thâm trầm và đau khổ đến xé nát kiếp người, thậm chí cả mấy kiếp người nối tiếp, hỷ nộ ái ố, yêu thương và căm hận, khoan dung và trả thù, hiền hoà và dữ dội, thiện và ác, chẳng thiếu chút gì và đều đến cùng cực, vô cùng con người, vô cùng “nhân loại”, vô cùng phức tạp (cuộc đời này vốn đẹp chính vì nó rất phức tạp. Một cuộc đời đơn giản, vô sự, thì thật nhạt thách, chán phèo!), chẳng hề thua kém về độ “người” so với con người ở bất cứ đất nước hiện đại và văn minh nào. Đây là một tác phẩm đậm đặc tính nhân bản. Và nó bộc lộ tính chất nhân bản sâu xa của một vùng đất xa xôi tít tắp và hoang vắng mà lâu nay ta thường chỉ lấy làm thích vì trông nó có vẻ rất lạ, thậm chí rất thô sơ, thô thiển, “lạc hậu”. Vậy đó, cũng không ít đâu những người quan niệm và chủ trương lấy chính cái “lạc hậu”, cái hoang dại của một số vùng đất và người làm “hàng độc” để câu khách du lịch. Càng cố tình đẩy cái thô thiển, lạc hậu ấy lên thì càng tạo ra được hàng độc, càng đắt giá... Tôi nghĩ rằng điều này có liên quan chặt chẽ và rất quan trọng đối với đề tài ta đang định bàn hôm nay. Vậy xin thử góp đôi ý kiến lạm bàn, để thử cùng suy nghĩ.

*

* *

Tôi không phải là chuyên gia về miền Tây, song do yêu mến vùng đất và người nơi này nên cũng thường suy nghĩ về một số vấn đề ở đây. Tôi chú ý đến hai vấn đề, quan tâm và trằn trọc, trước hết là để cố thử tự lý giải cho chính mình.

Một là: những ai từng đến miền đất này trước đây mươi, mươi lăm năm chắc không thể không nhận thấy và ít nhiều có một băn khoăn, thậm chí lo lắng và ray rứt: Miền Tây ngày nay, đương nhiên cũng như mọi miền đất khác của nước ta, tất phải hiện đại hoá và trong thực tế đang hiện đại hoá rất nhanh. Hiện đại hoá có phá vỡ, đến làm biến mất đi những nét độc đáo vẫn được coi là “đặc sản” độc nhất vô nhị của thiên nhiên cùng con người, và từ đó cả văn hóa của Miền Tây không? Gần đây tôi có trở về Năm Căn, Kinh Năm, Rạch Gốc, cả bên phía Sông Đốc, Đầm Cùng, Đá Bạc… Không còn những chiếc tàu đò nặng nề mà thú vị rời bến Cà Mau tờ mờ sáng, ì ạch tối mịt mới về tới Năm Căn, lại gần một ngày nữa lang thang hết sống lớn đến kinh, đến rạch, đến tắc, đến vàm kín bưng những đước cùng mắm và chằng chịt như mạng nhện, mới tới Rạch Gốc. Bây giờ thì hết rồi, toàn ca nô cao tốc và tàu cánh ngầm, hùng hổ phóng như điên, hỗn hào đánh giạt những chiếc võ lãi ngày trước thơ mộng là thế, nay không thật khéo tay là bị lật nhào chìm ngĩm ngay. Và các bờ kinh thì bị sóng ca nô đánh cho lỡ lói tan tành, nham nhở, hai bờ kinh như hai dãy vết thương rớm máu bùn đen, nhà hai bên kinh đổ nhào cả xuống sông, may lắm còn lại được một bức tường hay vài cây cột trơ trụi. Còn rừng thì năm này qua năm khác, năm nào cũng bị phá và bị cháy, Đồng Tháp Mười rồi U Minh, hết tràm đến đước, sự tàn rụi của một vùng rừng ngập mặn và ngập nước vào loại quý nhất trên trái đất coi như cầm chắc rồi… Cái hiện đại đang đánh tả tơi cái trong trắng, hoang sơ và thơ mộng hôm qua một cách không thương tiếc. Quả thật có một mâu thuẫn, cũng có thể gọi là một thách thức không nhỏ, không dễ, hăm hở, ồ ạt và dữ dằn giữa cái đi tới gấp gáp và cái biến đi từng ngày, cái được ồn ào của hôm nay và cái êm lặng trầm tĩnh của hôm qua - mà nghịch lý thay, cũng lại là của ngay mai, biết đâu đấy, bởi đến một lúc thật giàu lên rồi, quay nhìn lại thì có tiếc đến đứt ruột và dẫu có ngàn vàng cũng không mua lại được. Nhưng chẳng lẽ dừng lại mãi trong nổi tiếc nuối hoài cổ? … Cũng chính Nguyên Ngọc Tư đã có một tạp bút rất hay nói về điều này, liên quan trực tiếp đến chính câu chuyện du lịch chúng ta đang bàn đây: ấy là chuyện một ông già ở cuối Xóm Mũi Năm Căn giận dữ phản ứng với các chú làm du lịch cứ muốn buộc ông cứ phải sống mãi trong cái chòi rách nát trống trơ của ông ở nơi cùng trời cuối đất ấy … để cho họ làm du lịch, có thế thì mới là “độc đáo”, mới là của lạ trong mắt khách du lịch, để cho khách đến ngắm xem và trầm trồ, nhất là khách Hà Nội, khách Tàu, khách Tây, mới là “sản phẩm du lịch đắt giá”, mới là “hàng độc” của xứ lạ, lia lịa chụp ảnh, quay phim mang về làm kỷ niệm và khoe với bạn bè ở Hà Nội hay ở bên Tây, bên Tàu. Ông già ấy mà cải thiện được đời sống, xây được một cái nhà đàng hoàng thì còn gì là “độc đáo Đất Mũi” kỳ lạ và hấp dẫn nữa! Người ta bỏ tiền ra là để mua cái cảnh nghèo xác xơ đến chừng man dã kia cơ! Ngành du lịch thì quyết giữ sao cho ông già thật lạc hậu, con ông già thì giận dữ đòi cũng phải trở nên người văn minh như ai… Vậy đó, có một xung đột thật sự, và xung đột đó thường diễn ra nhất chính là trong các vấn đề không dễ lý giải của ngành du lịch! Câu chuyện của Nguyễn Ngọc Tư chỉ là một ví dụ, nhưng là ví dụ khá điển hình. Nó đặt một câu hỏi vậy mà thật lớn và không dễ chút nào. Tôi không được biết ngành du lịch đã và đang nghĩ gì về chuyện này. Vừa rồi tôi có đi Tây Nguyên và thấy ở Tây Nguyên cũng đang có những vấn đề tương tự. Cuộc sống đi tới, hiện đại hoá tất yếu đang làm chuyển động mọi mặt đời sống, trong đó có cả những giá trị văn hóa truyền thống, và sự chuyển động đó không hề là một chiều, mà đầy nghịch lý, từng ngày. Những vấn đề giữa đi tới và gìn giữ, được và mất cũng gay gắt chẳng kém gì dưới này. Tôi chỉ mới nghĩ được đến một hướng: vì sự biến đổi, biến động là tất yếu, tức ở ngoài mong muốn và ý chí của chúng ta, vậy không nên và dẫu có nên và có muốn thì thật ra cũng chẳng có cách gì cưỡng lại được. Trái lại rất có thể chính trong chuyển động đó lại đang nảy sinh ra cái độc đáo mới. Hà Nội hay Sài Gòn chuyển động sang hiện đại thì có gì là lạ. Tây Nguyên hay Miền Tây, Cà Mau, Năm Căn, Rạch Gốc, Kinh Năm … chuyển động mới là lạ, mới thật thú vị và hấp dẫn. Có phải chính sự chuyển động khó khăn đó ở những vùng đất đặc biệt này và trong những con người này lại có thể chính là sản phẩm du lịch mới độc đáo của chúng ta? Có lẽ nên có một cách nhìn lại như thế chăng, đối với du lịch, quan niệm về du lịch, sản phẩm du lịch.

Tôi có anh bạn người Pháp tên là Boris Lojkine, vừa là giáo sư triết học vừa là nhà làm phim tài liệu tài năng, tác giả bộ phim rất hay “Những linh hồn phiêu dạt” về đề tài đi tìm mộ liệt sĩ sau chiến tranh ở nước ta. Vừa rồi anh đã trở lại Việt Nam và định làm một phim mới về các dân tộc thiểu số ở miền Trung. Tôi có giúp anh đi khảo sát ở vùng rừng núi và dân tộc Quảng Nam. Đi về anh rất thất vọng, vì những gì anh hình dung về một cảnh sắc văn hóa dân tộc độc đáo hoá ra đã mất gần hết rồi, nhà sàn đã thành nhà đất, mái tranh thành mái tôn, rừng núi thì xác xơ, nóng kinh khủng, thanh niên trong làng đường núi gập gềnh vậy mà phóng xe máy như điên (và tất nhiên không hề đội mũ bảo hiểm!). Ở đây cũng vậy, cái truyền thống độc đáo đang bị đánh lùi, dữ dội và hỗn hào, cái mới đang đến, hăng hái mà rối rắm … Chúng tôi có ngồi với nhau một đêm sau chuyến đi của anh, tâm sự đến khuya, và cuối cùng chúng tôi nhận ra điều này: sự chuyển động ở những vùng ấy là tất yếu, cái hỗn độn, cả mất mát nữa trong chuyển động ở đó cũng là tất yếu, đấy là cuộc sống, một cuộc sống đang vật vã chuyển mình, tìm hướng đi tới cùng thiên hạ và hết sức khó nhọc trong việc cố giữ sao cho mình vẫn là mình, không đánh mất mình mà lại phải đi tới được cùng người, không bị bỏ rơi lại phía sau ngày càng xa. Cuộc sống không dừng lại, bất chấp mọi nuối tiếc của chúng ta. Hình như bản chất con người vốn là luôn hoài cổ. Mà cái đẹp thì chính là ở trong sự chuyển động không ngừng, không gì ngăn được của cuộc sống. Nếu quả thật anh là một nghệ sĩ có tài thì anh có thể sẽ làm được một bộ phim rất hay, rất độc đáo về cuộc chuyển động cũng rất độc đáo của những dân tộc đang phải vượt qua những chặng đường, thậm chí những giai đoạn lịch sử không hề nhỏ, để là những dân tộc độc đáo tồn tại được cùng và giữa thế giới hiện đại … Tôi biết trở về Paris, Boris đang ấp ủ kịch bản cho một bộ phim mới như thế, và anh đang tìm tài chính cho bộ phim ấy. Có thể sẽ lại có được một bộ phim mới rất hay, và đầy gợi ý cho chính những vấn đề chúng ta đang bàn hôm nay.

Tôi kể câu chuyện này để xin thử gợi ý có phải “sản phẩm” du lịch văn hóa ở Miền Tây của chúng ta mà chúng ta sẽ định đem chào hàng cùng khách du lịch bốn phương không phải, không nên là những “phục chế” giả cái hoang dã đang mất đi (một cách tất yếu), đóng kịch trở lại như kiểu đám cưới thì lại phải áo dài khăn đóng, giả và diễn, để lừa chào khách. Mà là đưa khách cùng vào thâm nhập, thấy, hiểu được con người, văn hóa ở đây đang vật vã và dũng cảm chuyển động như thế nào để trở nên những con người Miền Tây, thật Miền Tây mà cũng sẽ thật hiện đại như ai. Tất nhiên trong cuộc chuyển động khó khăn, vật vã đó, có cái, có chỗ đã và đang thành công, có chuyện, có nơi đang rối rắm, rất rối rắm, thậm chí cũng không ít cái đổ vỡ, thất bại. Tất cả đều quý, và tôi nghĩ đưa người khách du lịch thật sự đến, biết, hiểu được tất cả những cái ấy thì sẽ là thật sự trao cho họ một sản phẩm du lịch rất quý, rất lạ và hiếm, rất đắt giá, cả sâu sắc nữa. Tôi tin con người Miền Tây, với chiều sâu nhân văn không khoa trương, ồn ào mà thâm trầm theo cách rất riêng của mình, đang và sẽ có cách đi của mình, hẳn rất độc đáo, trên đường hiện đại hoá tất yếu. Đang và sẽ có một kiểu văn hóa mới của riêng Miền Tây, độc đáo chẳng kém xưa, trong phát triển hôm nay. Du lịch bao giờ cũng là văn hóa, là trao đổi văn hóa, là hành động của những con người tìm đến với nhau bằng văn hóa, qua văn hóa. Du lịch rất cần tìm hiểu cho ra sự chuyển động và hình thành văn hóa mới của chuyển động đó trên vùng đất này để làm món “hàng độc” của mình. Tôi mong trong hội thảo này chúng ta thử trao đổi về nội dung và phương hướng du lịch ấy ở Miền Tây xem sao. Cần tìm một hướng đi mới, và theo tôi hướng đi đó chính là một hướng đi văn hóa, theo nghĩa sâu xa và cũng rất thời sự của văn hóa.

Còn một điều thứ hai hẳn không thể không quan tâm và không nói đến: đồng bằng Miền Tây, như ai cũng biết, là vựa lúa lớn nhất nuôi sống cả nước, nhưng nông dân ở đây lại nghèo, rất nghèo, và cái nghèo đó đã và đang đưa đến những vấn đề xã hội không lấy gì làm vui, có khi còn đau đớn nữa. Chắc ai cũng biết hàng vạn cô gái lấy chồng Hàn, chồng Đài, hàng trăm cô gái kéo lên thành phố tập họp, sắp hàng, làm cả những gì đó nữa để cho vài ba kẻ nước ngoài kệch cỡm và lố bịch “xem mắt”, những cô gái mơm mởn, hiền hậu và hiếu thảo của vùng đất đẹp biết bao này đã phải ném đời mình vào cuộc phiêu lưu may ít rủi nhiều ấy để cứu gia đình, mong mang lại một chút thư thới cho cha mẹ mình trong tuổi già, cho các em của mình được đi học, các cô gái ấy đều phần lớn từ Miền Tây này ra đi. Muốn nói gì thì nói, đây là một vết thương trong đời sống đất nước chúng ta hiện nay, của chính mỗi chúng ta, mà chúng ta nhất thiết không thể làm ngơ. Chúng ta đang bàn đến chuyện du lịch cộng đồng ở Miền Tây. Tại sao không nghĩ đến việc tìm mọi cách đưa lực lượng ấy vào dự án du lịch của chúng ta, như một trong những mục tiêu quan trọng nhất của dự án, hay đúng hơn, của công cuộc xã hội quan trọng này. Một số anh em chúng tôi ở Miền Trung đang làm một trường đại học, trong đó một trong những khoa quan trọng mũi nhọn là khoa du lịch. Và trong khoa du lịch, bên cạnh các lớp chính quy, đào tạo nhân lực cao cấp cho nhu cầu du lịch cao cấp đang phát triển mạnh ở ta, chúng tôi chủ trương rất coi trọng việc mở những lớp ngắn hạn về du lịch nhằm đối tượng là cộng đồng dân cư rộng rãi và bình thường, để giúp họ chuyển nghề khi các ngành kinh tế đang phát triển sẽ đẩy người nông dân ra khỏi đồng ruộng của họ. Chẳng hạn những lớp ngắn hạn mươi, mươi lăm ngày, vai ba tuần, một tháng … về dịch vụ du lịch cho các ông chủ nhà để khi có thể họ làm được kiểu du lịch home stay, hoặc những chỉ dẩn chuyên môn tối thiểu về du lịch và ngoại ngữ cho người dân thường làm hướng dẫn du lịch. Ở Népal có một lực lượng hướng dẫn leo núi là nghề hết sức cần thiết và có thể đem lại thu nhập cao. Tất nhiên ta không phải là Népal và không có Himalaya, nhưng ta có Đồng Tháp Mười, có U Minh Thượng và Hạ, có biển và hàng trăm đảo huyền ảo Kiên Hải, có những cách đồng mênh mông và sông nước tuyệt đẹp … Tôi hình dung, được huấn luyện không nhiều và chắc cũng không khó khăn lắm, các chàng trai, cô gái rất lanh lợi, thông minh, chất phác và đôn hậu của chúng ta ở vùng đất này làm hướng dẫn du lịch cho khách xa đến, hẳn sẽ rất thú vị và hấp dẫn. Chắc chắn không ai hiểu đất và người ở đây bằng họ, cũng không ai hiểu đến thấm thía những chuyển động xã hội đang diễn ra ở đây sâu, sát cho bằng họ… Ít ra, hãy thử làm xem. Sẽ là đóng góp xã hội lớn lắm của ngành du lịch nếu chúng ta góp phần tích cực “giải phóng” được hàng vạn chị em đồng bằng này ra khỏi cái dịch vụ đang là mối ô nhục có người đã gọi là có tính cách quốc thể kia.

Để làm được, hẳn phải tiếp tục nghiên cứu kỹ lắm, tìm hiểu chi ly và tổ chức tận tuỵ, chu đáo lắm. Nhưng chắc chắn đây là việc lớn rất đáng bỏ trí tuệ và công sức để làm cho kỳ được. Vì nhân dân, vì Miền Tây thân yêu của chúng ta. Mong sao ngành du lịch thật sự vào cuộc, đúng như chủ đề của hội thảo này, du lịch cộng đồng, vì cuộc sống của nhân dân.

Một số ý kiến thô thiển của một người chắc chắn là không am hiểu bao nhiêu vùng đất này, nhưng từng và vẫn thiết tha yêu mến nó, xin trình bày. Rất mong được trao đổi.

Tháng 10-2007


Ảnh: Trương Công Khả, Metinfo

_

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2007

Sóng ngầm bến Ninh Kiều


Vũ Thống Nhất

“Cần Thơ có bến Ninh Kiều / Có dòng sông đẹp với nhiều giai nhân”. Hơn 1,4 triệu khách trong ngoài nước hàng năm đến Cần Thơ hầu hết đều rảo bước trên bến sông này. Năm du lịch quốc gia “Mekong Can Tho – 2008” đã cận kề nhưng mặc dù nhiều biện pháp được triển khai hiện tượng tranh giành khách vẫn bùng nổ, luôn làm các nhà quản lý đau đầu.

Sóng ở bến sông

“Đi chợ nổi không? Đi vườn không anh (chị)? Lên ghe hóng mát trên sông?...”. Không trả lời họ lẽo đẽo bám đến khi khách phải “có” hay “không” mới buông tha. Cứ chạm chân ra bến Ninh Kiều là“dính chấu”, bất kỳ ai; “ngay cả Phó chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ thả bộ trên bến họ cũng nhào tới mời”, một cán bộ du lịch bức xúc trong một cuộc họp liên ngành. Nghề bắt khách tại bến Ninh Kiều có từ lâu lắm rồi và nở rộ khi lượng khách đổ về thành phố trung tâm đồng bằng này ngày càng nhiều. Trước thì ngồi chéo ngoe ngay mặt tiền công viên sau ghế đá được dẹp vào trong thì nhảy, leo, trèo rào và còn tràn xuống, ngồi chồm hổm ngay vệ đường suốt dọc con đường Hai Bà Trưng; trước cửa các khách sạn, nhà hàng… Thậm chí “câu khách” ngay tại bến phà, dọc đường đi khi chưa vào nội ô thành phố. Yêu cầu thân thiện, văn minh thì ngang nhin “xài hàng độc” quần cụt áo thun bắt khách. Ai “mắt tia (nhìn) miệng hét” lẹ thì khách “phải” của người đó. Việc phân định vị trí, ranh giới bắt khách được dân trong nghề ngầm thỏa thuận, “bất thành văn”, lộn xộn “đổ máu ráng chịu”. Không có tàu thì bắt khách ăn hoa hồng; có tàu cũng xé rào bắt khách.


Có chủ tàu “đi lụi” bị CSGT thủy dí tận nơi, bắt tại chỗ, xé biên lai phạt “kinh hồn” nhưng mọi chuyện vẫn “vũ như cẩn”. “Tại sao cò hoạt động công khai hoặc “tàu không số”, “tàu ba không” (không bằng lái, không bảo hiểm, không giấy phép) vẫn lén lút hoạt động trong khi chúng tôi đóng đủ loại phí nhưng vẫn luôn chậm chân hơn họ?”, “Tại sao tàu lớn không đóng phí theo đầu khách mà theo tải trọng?”, “ Doanh nghiệp, công ty lữ hành du lịch cũng bắt khách. Cấm phải cấm hết!”… Nhiều chủ tàu tư nhân đã liên kết với công ty du lịch tỏ ra gay gắt.

Giá một tour “đi lụi” luôn thấp hơn giá cùng tuyến của công ty du lịch lại khỏi vô bến đợi chờ xếp chuyến (làm thủ tục xuất bến, đóng phí chuyến…) chưa kể có những dịch vụ, điểm mới lạ hơn khiến dân “Tây ba lô”, du lịch bụi rất khoái, một chủ tàu bật mí.

Bến tàu “đa sở hữu”

Bến tàu được “xã hội hóa” cho nhiều thành phần kinh tế (DN Nhà nước, hợp tác xã, các công ty lữ hành, chủ tàu tư nhân) với đủ loại phương tiện như du thuyền ( loại từ 50 - 400 khách), ghe tàu (1 - 50 khách), tắc ráng (1 - 12 khch), đò chèo, máy đuôi tôm (1 - 6 khách)... và gần đây thêm hai tàu của chính công ty Du lịch. Vì vậy, chỉ trong vòng 1 năm, ngành du lịch đã cố gắng liên kết được với hơn 95% trong tổng số hơn trăm phương tiện đưa đón khách tại đây(mấy năm trước chỉ đạt 1/3 số tàu. Mục tiêu cao nhất là an toàn cho du khách đã sớm đạt được khi tất cả các tàu chỉ được phép xuất bến nếu thỏa mãn yêu cầu của cơ quan chức năng(bằng lái, phao…). Việc đưa bến tàu du lịch mới đi vào hoạt động(gồm 2 cầu tàu có sức chứa trên 100 khách, kinh phí đầu tư trên 1,7 tỷ đồng) đúng dịp 30/4 năm ngóai làm Ninh Kiều thêm đẹp với bãi đỗ khách, nhà chờ, phòng điều hành - cung cấp thông tin, bán hàng lưu niệm...


Tuy nhiên, việc tranh giành, móc nối khách “ngoài luồng” vẫn làm các nhà quản lý đau đầu. Cả trăm tàu nếu vô bến ngồi đợi “xếp tài” có khi mấy ngày không được chuyến nào “húp cháo”? Khách “mối” bao lâu nay phải nhường hay đợi “xếp chuyến” mới được đi? Có cần thiết tất cả các tàu liên kết phải treo logo của công ty du lịch?... Nhưng điểm gay cấn nhất, khó gặp nhau nhất chính là áp lực các khoản phí chủ phương tiện phải chịu: mỗi chuyến phải đóng 12% doanh thu cho ngành du lịch quản lý bến, khoảng 5% cho cảng vụ; rồi hàng tháng đóng thêm tiền đăng kiểm, thuế mặt nước cho phường… Ông P, một chủ tàu đã chạy 15 năm tính toán: hên lắm mỗi ngày có một chuyến thì thu nhập cũng chỉ khoảng gần 3 triệu đồng/tháng/tàu nhưng tiền dầu mất đứt 40-50% doanh thu, rồi ăn uống, đóng các khoản phí… “ Anh nhớ cho người chạy tàu hầu hết là dân nghèo “truyền đời” xóm Chài Hưng Phú, mỗi chủ tàu gánh 5-6 miệng ăn lại hầu hết đang nằm trong phần đất bị giải tỏa làm dự án… Để mưu sinh chỉ biết bám lấy khúc sông này…”.


Phải là bến văn minh, thân thiện

Ông Đinh Viết Khanh, Giám đốc Sở Du lịch TP.Cần Thơ nhìn nhận bến mới đã góp phần tăng mỹ quan nhưng yêu cầu chính lập lại trật tự, văn minh hơn (Trật tự, mỹ quan; bảo đảm an toàn cho khách; bảo đảm quyền lợi cho người lao động) thì vẫn chưa đạt được. Để có thể giải quyết vấn đề một cách căn cơ phải có sự chỉ đạo thống nhất, cương quyết của UBND, các ban ngành chức năng của thnh phố. Ông Trương Văn Ngon – Phó TGĐ công ty CPDL Cần Thơ cũng nhận xét “chiếc áo đã chật” trước bối cảnh mới. Đội kiểm tra liên ngành cấp quận (CA Phường, TNXK, Đội Quản lý đô thị...) cần được nâng quyền xử lý chứ không chỉ nhắc nhở “lai rai” việc dẫm đạp lên thảm cỏ, vượt rào công viên. “Chúng tôi sẵn sàng trao đổi cụ thể, trên nhiều mặt với các chủ phương tiện nhằm vãn hồi nhanh chóng trật tự văn minh cho bến”.

Bến Ninh Kiều là hình ảnh năng động của một Cần Thơ mới, trở thành niềm tự hào của người dân Tây Đô nên việc nhanh chóng ổn định trật tự mỹ quan là một yêu cầu rất bức xúc, nhất là khi năm du lịch quốc gia “Mekong – Can Tho 2008” tại Cần Thơ đã cận kề. “Vô WTO rồi lượng khách nhất định sẽ tăng mạnh, cái gì cũng cần căn cơ bài bản và chuyên nghiệp hơn”, lãnh đạo một công ty du lịch lữ hành TP. Hồ Chí Minh nói vậy. Tập trung các phương tiện vào một đầu mối quản lý (thông qua liên kết) là một biện pháp cần thiết nhưng bên cạnh việc phối hợp với chính quyền tại chỗ, lực lượng CSGT thủy, giao thông công chánh… cũng cần xem xét lại tính hợp lý của việc phân bổ khách cùng một số loại phí và sự an sinh cơ bản cho các chủ phương tiện, nhất là hộ nghèo. Tất cả phải hướng tới xây dựng một thương hiệu chung, năng động, hiệu quả, “Cantho Tourism”.

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2007

Du lỊch Cần Thơ làm gì để thu hút khách?

“Với tất cả tâm tình mong du lịch Cần Thơ phát triển” Ông Lê Thanh Quý, TGĐ Công ty Liên doanh Sài Gòn – Cần Thơ đã bày tỏ như thế khi gởi đến Mblog bài phát biểu nhân hội thảo có chủ đề “Làm gì để phát triển du lịch Cần Thơ” do Sở DLCTHiệp hội Du lịch Cần Thơ tổ chức hồi tháng 7.2006

Từ lâu, Cần Thơ luôn được xem là thủ phủ của vùng ĐBSCL như tên gọi Tây Đô còn được sử dụng cho đến nay. Không kể đến vị trí trung tâm của Cần Thơ về mặt địa lý, những thuận lợi về thiên nhiên và nhân văn cũng giúp cho vùng đất này trở thành điểm đặc trưng cho cả vùng ĐBSCL khiến cho mọi du khách nếu chưa một lần ghé đến Cần Thơ cũng xem như chưa biết văn hóa miệt vườn của ĐBSCL.


Có một sự liên tưởng khi nhắc đến Cần Thơ người ta nghĩ ngay đến những cánh đồng lúa bát ngát thẳng cánh cò bay, những sông rạch chằng chịt êm đềm trong hai mùa mưa nắng, nhưng hấp dẫn nhất vẫn là tiếng đàn ca tài tử Nam bộ luôn sẵn lòng hào phóng với mọi người thân sơ. Đặc biệt người Cần Thơ nói riêng, người miền Tây nói chung nổi tiếng với lòng hào phóng nhiệt thành giúp đỡ người khác có thể hiểu qua chuyện nếu bạn hỏi đường một người miền Bắc bạn có thể được chỉ đường hoặc không, một người miền Trung sẽ chỉ đường cho bạn nhưng nếu ở miền Tây bạn sẽ được mời vào nhà uống nước hoặc nhậu rồi sẽ đưa bạn tận nơi. Tất cả những yếu tố trên, nhất là con người sẽ giúp rất nhiều cho sự phát triển của du lịch.


Thực trạng của du lịch của chúng ta hiện nay đã không như mong muốn, cũng không tương xứng với tiềm năng phong phú:
Trong nước có nhiều tỉnh thành chưa biết đến Cần Thơ nhất là từ miền Trung trở ra. Có một cô giáo dạy Anh văn cấp 3 ở Đà Nẵng sau khi đến Cần Thơ vì công việc nói rằng cô chưa biết thành phố này lớn và đẹp như vậy, lúc nào trời cũng mát dịu và chợ nổi hấp dẫn với những sinh hoạt thú vị khác lạ.
Ngoài nước hầu như không ai biết Mekong Delta ở đâu nữa chứ chưa nói tới Cần Thơ. Hiện nay chỉ có Pháp biết Cần Thơ nhiều nhất (về du lịch).
Lượng khách du lịch quay lại Cần Thơ rất ít trong nước lẫn quốc tế, số ngày lưu trú cũng thấp nhất cả nước không được hai đêm khiến doanh thu du lịch không cao. Đa số du khách đã quay về với ví tiền nặng trĩu.
Ấn tượng và sự gợi nhớ của vùng đất trù phú không bao nhiêu do sản phẩm và sản vật du lịch không đặc trưng đa phần do tự phát mà có.
Điểm tham quan quá ít để có thể kéo dài thời gian của khách ở lại với mình trong khi nối tua lại mất thời gian quá nhiều để có thể giữ khách lại Cần Thơ.
Không ai trong chúng ta muốn Cần Thơ mất đi sự thu hút với khách cũng chính là sự lãng phí tài nguyên thiên nhiên. Trước hết chúng ta phải đặt mình vào vai du khách rồi lại nhìn lại mình mới mong tìm ra lối thoát.
Đầu tiên, từ Tp HCM du khách mất 4giờ mới đến được bắc Bình Minh (xe trên 30 chỗ không thể chạy nhanh hơn do giới hạn tốc độ). Muốn qua đến Cần Thơ lại chờ phà nhanh nhất cũng gần 1 tiếng nữa, với quãng thời gian đó, du khách hẳn rất mệt mỏi và họ có quyền mơ một chuyến tham quan thú vị cho bõ công khó đường đi.
Nếu đến vào buổi sáng, du khách sẽ tham quan nhà cổ Bình Thủy và vườn cò Bằng Lăng vào buổi chiều. Sẽ rất thú vị khi nhìn thăm vườn cò nhưng trước hết khi đến đó, con đường vào thật nhếch nhác hai bên bờ giảm đi rất nhiều tình cảm trong lòng. Nếu vào buổi chiều, chỉ còn ăn rồi ngủ vì đêm Cần Thơ rất thiếu chỗ giải trí, không có gì vui.

Chợ nổi hiện nay là điểm tham quan chủ lực (và hầu như duy nhất độc đáo) được du khách hài lòng nhất. Tuy nhiên chúng ta không ngăn được tình trạng xả mọi thứ rác xuống sông cũng gây phản cảm nhất là với khách quốc tế. Lâu nay vẫn có tình trạng đáng báo động về an toàn cho du khách. Rất nhiều chiếc tắc ráng từ những bến chui chở khách Tây ba lô tham quan chợ nổi không hề có chiếc áo phao nào cả.


Gần đây ở Cần Thơ xuất hiện nhiều tàu khách cao tốc giống như ở Cà Mau cả về chủng loại lẫn phong cách chạy như bay ngay khu vực đông tàu bè như chợ nổi Cái Răng rất nguy hiểm, lẽ ra phải giảm tốc độ. Sau khi thăm chợ nổi, các vườn trái cây của Cần Thơ hầu hết đều qui mô nhỏ không có nhiều trái cây như danh tiếng của Cần Thơ, chưa đẹp như ý nghĩa của danh từ Miệt Vườn. Đường đến các vườn du lịch chưa đươc chăm sóc chu đáo, tình trạng vệ sinh quá kém tại các điểm du lịch chúng ta khiến du khách ngán ngại. đã có đoàn khách Úc mua tua homestay tại Cần Thơ đã quay về khách sạn thành phố do tình trạng vệ sinh kém như thế hồi năm ngoái (báo Người Lao Động có phản ánh).
Chương trình đàn ca tài tử ấn tượng với du khách nước ngoài lẫn trong nước do các nhạc cụ độc đáo nhưng do việc sử dụng ampli và loa công suất lớn nên làm mất đi âm điệu quyến rũ của đờn ca tài tử, đôi khi còn “tra tấn” du khách không chỉ vì âm thanh lớn mà còn do thời lượng quá dài. Với chúng ta đó là món ăn tinh thần không sao nhưng khách quốc tế lại khác.
Hiện nay cơ sở vật chất của bến tàu du lịch đã được đầu tư tốt nhưng tổ chức và quản lý bến bãi cũng như triển khai các dịch vụ hỗ trợ cho du lịch vẫn cần được phối hợp nhịp nhàng và đa dạng thay vì mạnh ai nấy làm thiếu hiệu quả. Chợ cổ Cần Thơ sau khi tôn tạo rất đẹp dường như vẫn chưa phát huy tác dụng. Tôi ngạc nhiên tại sao chúng ta loay hoay tìm kiếm hình ảnh biểu tượng cho thành phố ở đâu xa sao không lấy chợ cổ của mình rất ấn tượng về kiến trúc lẫn văn hóa đặc trưng trên bến dưới thuyền.

Cái thiếu nhất để có thể phát triển du lịch Tp chúng ta chính là mức độ đầu tư về tài chánh lẫn định hướng. Ngân sách dành cho phát triển du lịch Cần Thơ là bao nhiêu? Chương trình hành động quốc gia về du lịch rót cho Cần Thơ được bao nhiêu so với các địa phương khác? Chính sách ưu đãi đầu tư về du lịch chúng ta đã hợp lý và phổ biến chưa? Ví dụ như khách sạn Sài Gòn - Cần Thơ đã gần 10 năm việc mở rộng vẫn còn là trên lý thuyết dù đã có nhiều thông báo, quyết định của ủy ban tỉnh trước đây và Tp hiện nay đã quyết.
Chúng ta nói mời gọi du khách nhưng có biết nỗi khổ của du khách khi chờ phà trong sự hỗn độn và nhếch nhác chí ít cũng 45 phút/lần đến cũng như đi làm sao khách quay lại được. Rồi tình trạng vệ sinh trên sông và tại các điểm tham quan rất kém khiến du khách khó có thiện cảm. Không có vườn trái cây nào của chúng ta trĩu quả như quảng cáo mà chỉ một vài loại nếu so với Vĩnh Long còn kém xa.
Nhận xét cùa một Phó TGĐ hãng lữ hành LD với nước ngoài lớn tại TP HCM: “Ở ĐBSCL hầu như ở địa phương nào cũng lấy điểm nhấn là đưa du khách xuống tàu, đưa khách đi tham quan trên các sông rạch nhỏ, len lỏi vào các thôn xóm, làng xã, chợ nổi và thăm vườn trái cây. điều đó đã gây cho khách nhàm chán và chắc chắn khó có thể thu hút khách mua tua dài ngày hoặc liên tiếp”.


Lê Thanh Quý

Ảnh: Trương Công Khả,
Lê Thanh Quý
________

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2007

PhuQuoc Meeting 2007 và MekongGroup

Vào ngày 28.9.2007, hai sự kiện liên quan đến du lịch đồng bằng cùng diễn ra:

  • một tại Phú Quốc là sự kiện “PHUQUOC MEETING 2007 - DIỄN ĐÀN CÁC NHÀ ĐẦU TƯ & KINH DOANH” tổ chức lần đầu tiên tại Phú Quốc dành cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp đã, đang và dự định đầu tư, kinh doanh tại Hòn đảo lớn và hấp dẫn nhất Việt Nam.
  • hai là cuộc gặp mặt của 11 Công ty Du lịch trong vùng (thuộc nhà nước trước đây, chỉ thiếu Bạc Liêu và Cà Mau) tại Đồng Tháp để tiếp tục thảo luận việc hình thành nhóm Mekong Group nhằm đẩy việc liên kết du lịch đến các ký kết cụ thể.

    Riêng về Phú Quốc, cho đến ngày 19.9.2007 đã có hơn 200 doanh nghiệp đăng ký tham dự PHUQUOC MEETING 2007. Danh sách diễn giả nổi tiếng và nội dung tham luận đầy thời sự được ghi nhận vào lúc này là:

    · Đề tài: “Các vấn đề pháp lí liên quan đầu tư tại Phú Quốc”
    Luật sư: Trần Duy Cảnh, Trưởng văn phòng luật sư Luật Việt
    · Đề tài: “Phân kỳ đầu tư”
    Mr Martin H.Kaye, TGĐ Starbay Holdings Ltd.
    · Đề tài: “Thách thức về tài chính trong việc phát triển Phú Quốc”
    Mr Ken Arkinson, TGĐ - Grant Thornton
    · Đề tài: “Cân bằng rủi do của các nhà đầu tư”
    Mr Dominic Scriven, TGĐ Dragon Capital
    · Đề tài: “Quản lí khách sạn và đào tạo nguồn nhân lực”
    Lãnh đạo tập đoàn Agon Resorts & Hotels Ltd

    Mong rằng thông tin này là có ích cho khách hàng của METINFO.

__________________

PHUQUOC MEETING 2007
Bà Nguyễn Thị Diệp Mai
Giám đốc Trung tâm xúc tiến Du lịch tỉnh Kiên Giang
ĐT: 0913993324
Email:
nguyenthidiepmai@yahoo.com

MEKONG GROUP
Ông Trương Văn Ngon
Phó TGĐ CanThoTourist
ĐT: 0913973108
Email:
canthotourist@hcm.vnn.vn

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2007

Có "du" mà chưa có "lịch"


Hòa vào thiên nhiên với đủ loại cây cỏ (mà đa số là bằng bê tông, nhựa), cổ hóa hoặc bình dân hóa cảnh quan, vật dụng, trang phục… đang là mốt tại nhiều cơ sở lưu trú và lữ hành. Không kể những nơi do giới nhà nghề thực hiện, số còn lại là những chắp vá nhiều lúc tréo ngoe. Đó là chỉ mới nói tới cơ sở hạ tầng, còn các sản phẩm du lịch khác được thiết kế theo chiều hướng này (sinh thái, về nguồn…) cũng có nhiều điều không ổn.

Chuyện là ở chỗ người thực hiện không rõ điều cần thể hiện dẫn đến sản phẩm như một phác thảo thô ráp. Cái sự du (của khách) với mong muốn mang lại cái lịch (lãm) cho họ không được thỏa mãn, sản phẩm sẽ bị quên và chán. Có một nhà hàng thường được những người sành ăn tìm đến khi đi Phú Quốc, vào lúc thực khách ăn tráng miệng, ông chủ nhà hàng đến ngồi cùng bàn rồi giới thiệu rõ từng món ăn đã được chế biến công phu như thế nào, kể cho họ vì sao dân đảo có nhiều món ăn độc đáo và rất ngon. Ông đã biến bữa ăn tối thành một trải nghiệm văn hóa ẩm thực xứ lạ cho du khách.

Nhằm giúp các nhà thiết kế sản phẩm du lịch (sờ được và không sờ được) có thêm tư liệu để thể hiện cái hồn nam bộ trong sản phẩm của mình, Mblog giới thiệu website hobieuchanh.com do Tiến sĩ Trang Quan Sen và nhiều người khác thực hiện. Bên cạnh việc cho phép tải bản in điện tử và bản âm thanh được thực hiện rất công phu, hobieuchanh.com còn có bản chú thích các phương ngữHồ Biểu Chánh đã sử dụng, rất nhiều trong số đó nay không còn dùng nữa.


"Cơm Điền chủ" một sản phẩm rất được ưa chuộng
tại
Làng du lịch Mỹ Khánh, Cần Thơ


Mblog

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2007

Cẩn thận, đừng sướng quá mà chạy ra đường như Archimedes!

PACE do ông Giản Tư Trung lãnh đạo đã thực sự đứng vào đội ngũ những Nhà đào tạo hàng đầu Việt Nam vì có công (và có đủ uy tín để) mời được Philip Kotler rồi tổ chức thành công buổi nói chuyện về marketing tại TP. HCM ngày 17.8.2007.

Sự xuất hiện của ông Philip Kotler cũng chính là sự kiện marketing tuyệt vời mà PACE thực hiện cho chính mình.

Giới du lịch và báo chí tấm tắc với gợi ý về một “nhà bếp của thế giới”. Không thể bỏ qua ý tưởng xuất thần và kịp lúc này (nhưng không mới) vì (ngành du lịch) ta đang bối rối do mọi thứ còn tiềm ẩn.

Cũng nên nhớ lại có phải xứ mình chưa có sáng kiến marketing nào đáng kể dành cho du lịch? Con đường di sản như một tia sáng loé lên rồi leo lét mãi. YanCanCook hạ mức giá từ từ, rồi lại đề nghị cho làm thiếu nợ… vẫn chưa vào "đóng phim" được tại Việt Nam! Còn những dự án lớn nhỏ nhiều tâm huyết khác ở khắp cả nước…

Có lẽ không lâu nữa, sự tác động của Philip Kotler sẽ phát huy tác dụng khi mọi người nghiền ngẫm, thấm thía, rồi chạy toáng lên từ trong nhà tắm ra chụp điện thoại hẹn họp hoặc vơ lấy sổ tay, mở laptop mổ lia lịa? Cẩn thận, đừng sướng quá mà chạy ra đường như Archimedes!

Tại buổi nói chuyện của Philip Kotler, câu nói đáng chú ý lại là của ông Giản Tư Trung:

"Chúng ta đón chào đây hôm nay không ch là mt người ni tiếng toàn cu - ngài Philip Kotler - mà cái chính là đón chào nhng tư tưởng mi, nhng lung gió mi trong kinh doanh ca thế gii hin đi. Chúng ta đang hi nhp toàn cu, và cuc hi tho này cũng là mt nhp cu ni chúng ta vi thế gii"


Mblog

________________________

Links tham khảo thêm: